Thay vì ngồi ở quán cà phê, một số người làm việc tự do, nhân viên làm việc từ xa và nhóm nhỏ đang tìm đến coworking (không gian làm việc chung) để có nơi ổn định, yên tĩnh và thuận tiện hơn khi cần họp trực tuyến.
Anh Thanh Tuấn (35 tuổi, Hà Nội) thường bắt đầu làm việc sau khi cho con ngủ, có hôm phải xử lý công việc đến 2h sáng. Quán cà phê quen đóng cửa lúc 23h nên anh tìm một nơi có thể ngồi muộn hơn và bắt đầu dùng dịch vụ coworking.
Rẻ hơn một ly cà phê, vẫn được phục vụ nước
Có lần, anh chọn một điểm coworking mở cửa khuya với giá 25.000 đồng cho 3 giờ, kèm một món nước. Anh chỉ cần mang máy tính đến, chọn chỗ ngồi và làm việc trong không gian yên tĩnh. Mức giá thấp là lý do để anh thử, nhưng không phải lý do duy nhất để quay lại. Theo anh, coworking phù hợp hơn khi cần ngồi lâu, có nhiều loại chỗ ngồi và ít bị ảnh hưởng bởi tiếng ồn.
Trong khi đó, chị Ánh Dương (32 tuổi, Hà Nội) tìm đến coworking chủ yếu vì công việc có nhiều cuộc họp trực tuyến. Làm việc cho một doanh nghiệp có trụ sở tại TPHCM, chị thường xuyên phải họp với đồng nghiệp từ xa. Trước đây chị làm việc tại nhà hoặc quán cà phê, nhưng tiếng ồn khiến các cuộc gọi nhiều lúc bị gián đoạn. “Có ngày tôi phải họp trực tuyến 3-4 cuộc. Ngồi quán cà phê khá bất tiện vì ồn, còn ở nhà đôi khi bị phân tâm”, chị nói.
Tại coworking gần nhà, chị ngồi khu vực chung khi làm việc thông thường và chuyển sang phòng riêng khi họp hoặc cần gọi điện. Chị không thuê chỗ cố định theo tháng mà chọn gói theo giờ hoặc theo ngày. “Hôm nào có việc thì đến, dùng bao lâu trả tiền bấy lâu”, chị chia sẻ.

Nhiều bạn trẻ làm việc tại coworking của Toong trên đường Võ Văn Tần, phường Xuân Hòa, TPHCM (Ảnh: Lê Tỉnh).
Theo ghi nhận của phóng viên Dân trí, thị trường coworking hiện có nhiều sản phẩm với mức giá từ vài chục nghìn đồng cho vài giờ đến vài triệu đồng mỗi tháng. Các mô hình này tập trung chủ yếu tại khu vực trung tâm TPHCM, Hà Nội, Đà Nẵng và có thể đặt chỗ trực tiếp hoặc qua ứng dụng. Phần khảo sát giá dưới đây được thực hiện tại TPHCM.
Tại một địa điểm của Toong trên đường Võ Văn Tần (phường Xuân Hòa, TPHCM), khách có thể dùng chỗ ngồi linh hoạt theo ngày với giá 165.000 đồng/người, đã gồm VAT. Không gian được bố trí trong một tòa nhà, trong đó tầng 1-2 dành cho văn phòng và coworking, phục vụ nhiều nhóm khách từ các dự án khởi nghiệp đến doanh nghiệp trong các lĩnh vực công nghệ, thời trang, dịch vụ.
Theo nhân viên Toong, không gian được chia thành khu làm việc chung và các khu riêng dành cho khách cần yên tĩnh hoặc bảo mật. Người dùng có thể tự chọn vị trí trong khu vực được phép thay vì cố định một chỗ. Với gói theo ngày, mức phí 165.000 đồng đã gồm chỗ ngồi và các tiện ích cơ bản. Khách được dùng khu tự phục vụ với nước lọc, trà, cà phê và được mang đồ ăn vào trong thời gian làm việc.
Khi cần họp hoặc trao đổi riêng, khách có thể thuê phòng họp giá 880.000 đồng/giờ, đã gồm VAT. Phòng được trang bị bàn ghế, điều hòa, màn hình tivi và dây cáp kết nối máy tính. Khách cũng có thể tham quan trước khi đăng ký để chọn khu vực phù hợp.
Nhân viên Toong lưu ý địa điểm này đóng cửa lúc 20h, nên chỗ ngồi và phòng họp chỉ được sử dụng trong khung giờ đó.
Đa dạng dịch vụ, vẫn có rào cản
Ở phân khúc thuê dài hạn, theo tìm hiểu, một chỗ ngồi linh hoạt tại khu trung tâm có giá khoảng 100-145 USD, tương đương 2,6-3,7 triệu đồng/người/tháng. Các thương hiệu như Dreamplex, CirCO hay The Sentry có khoảng 4-5 cơ sở tại TPHCM; riêng Toong vận hành mạng lưới hơn chục địa điểm tại nhiều thành phố. Điểm chung là các cơ sở đều tập trung ở khu trung tâm.

Phòng họp tại coworking của Toong, với giá thuê mỗi giờ hơn 800.000 đồng (Ảnh: Lê Tỉnh).
Với hình thức này, khách trả phí cố định hằng tháng để dùng chỗ ngồi cùng các tiện ích như internet, in ấn, cà phê, lễ tân, phòng họp và khu sinh hoạt chung. Mô hình phù hợp với người làm việc thường xuyên, không muốn tự đầu tư bàn ghế, thiết bị và gánh chi phí vận hành như khi thuê văn phòng riêng.
Bên cạnh thuê theo tháng, một số đơn vị tính phí theo thời gian sử dụng. WorkFlow hiện có 4 địa điểm tại TPHCM, trong đó cơ sở trong hẻm 195 Hai Bà Trưng (phường Xuân Hòa) kết hợp quán cà phê với không gian làm việc chung. Khách có thể mua trước gói giờ để dùng dần: Gói 500 giờ giá 9 triệu đồng, hạn dùng 6 tháng; gói 1.000 giờ giá 16 triệu đồng, hạn dùng 12 tháng. Muốn dùng nhiều chi nhánh, khách mua thêm thẻ Passport giá 299.000 đồng/tháng.
Ở phân khúc thấp hơn, một số đơn vị cho thuê chỗ ngồi theo giờ với giá khoảng 36.250 đồng/giờ. Bàn cố định ở nhóm này khoảng 1,8 triệu đồng/tháng, tức khoảng 60.000 đồng/ngày nếu dùng đủ tháng. Gói mua lẻ cả ngày có giá khoảng 290.000 đồng/ngày, hướng đến khách cần không gian làm việc, họp hoặc thảo luận trong thời gian ngắn.
Dù cách tính phí đa dạng, chi phí vẫn là rào cản với một bộ phận người dùng. Ở nhóm giá vài chục nghìn đồng cho vài giờ, coworking có thể rẻ ngang hoặc hơn một ly cà phê; nhưng với gói theo ngày hoặc theo tháng ở khu trung tâm, nếu chỉ cần wifi, nhà vệ sinh và chỗ ngồi trong vài giờ thì quán cà phê vẫn rẻ hơn đáng kể.
Dùng thường xuyên, chi phí coworking có thể lên tới vài triệu đồng mỗi tháng, chưa kể phí phòng riêng hoặc phòng họp. Một số tiện ích còn phụ thuộc tình trạng đặt chỗ, khiến khách có nhu cầu phát sinh phải chờ hoặc chuyển sang khu vực khác.
Ở góc nhìn thị trường, báo cáo thường niên về không gian làm việc linh hoạt của Knight Frank Việt Nam (công bố đầu tháng 2/2026) cho biết giá thuê không gian làm việc linh hoạt tại TPHCM năm 2025 tăng 3% so với năm trước, đạt trung bình 226 USD/người/tháng (khoảng 5,8 triệu đồng), chủ yếu nhờ các văn phòng cao cấp và hạng A ở vị trí trung tâm gia nhập thị trường.
Mức trung bình này tính chung mọi loại sản phẩm, gồm cả văn phòng riêng, nên cao hơn giá chỗ ngồi linh hoạt mà phóng viên khảo sát. Tại khu trung tâm thương mại - tài chính (CBD), giá chào thuê coworking đạt 300 USD/người/tháng (khoảng 7,7 triệu đồng), tăng 6%; ngoài CBD, văn phòng riêng 4-6 chỗ ngồi có giá trung bình 167 USD/người/tháng (khoảng 4,3 triệu đồng), tăng 3%.
Tính đến năm 2025, TPHCM có khoảng 120 dự án coworking đang hoạt động, do 39 đơn vị vận hành, tổng nguồn cung khoảng 162.200m2, tăng 12% so với cùng kỳ; khu CBD chiếm 46% nguồn cung. Các thương hiệu Circo, Regus, Toong, UP, Serepok, Replus và MindX chiếm khoảng 56% tổng nguồn cung; sự gia nhập của các nhà vận hành quốc tế mới như JustCo, Komune và Beyond Coworking cho thấy niềm tin của nhà đầu tư vào thị trường này.
Dù cạnh tranh gia tăng do nguồn cung mở rộng, tỷ lệ lấp đầy toàn thị trường vẫn giữ ở mức 70-80%, tương đương năm 2024; nhu cầu chủ yếu đến từ doanh nghiệp công nghệ thông tin, dịch vụ chuyên nghiệp và logistics.
Tính đến tháng 10/2026, Knight Frank chưa công bố báo cáo riêng cho năm 2026, nhưng diễn biến chung của thị trường văn phòng vẫn hỗ trợ phân khúc này: Theo Avison Young Việt Nam, trong quý 3/2026, giá thuê văn phòng hạng A tại khu CBD TPHCM ổn định ở mức 50-55 USD/m2/tháng, hạng B ở mức 33,5 USD/m2/tháng; tỷ lệ lấp đầy đạt 90% ở hạng A và 91% ở hạng B. Cạnh tranh giữa các tòa nhà ngày càng tập trung vào chất lượng dịch vụ và điều kiện thuê linh hoạt - cũng chính là lợi thế mà mô hình coworking đang khai thác.
Ông Sơn Hoàng, Phó Giám đốc Bộ phận Nghiên cứu và Tư vấn, Knight Frank Việt Nam, nhận định: Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gia tăng và điều khoản thuê linh hoạt hơn, nhiều đơn vị vận hành đang nâng cấp tiện ích dùng chung để thu hút khách thuê, gồm khu vực chung, không gian sự kiện, khu nghỉ ngơi và phòng họp.
Cũng theo ông Hoàng, khi yếu tố bền vững ngày càng được các doanh nghiệp đa quốc gia coi trọng, nhu cầu với các tòa nhà văn phòng thân thiện môi trường, kết nối tốt ngày càng tăng, thúc đẩy các nhà vận hành mở rộng tại các tòa nhà hiện đại, tiêu chuẩn kỹ thuật cao.