Bỏ qua điều hướng
•

Thước đo hiệu quả của xã hội số

Thước đo hiệu quả của xã hội số
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1033/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030. Chương trình hướng tới mục tiêu phổ cập kết nối số trên phạm vi toàn quốc, với 100% hộ gia đình được tiếp cận Internet băng rộng cáp quang với tốc độ tối thiểu 1Gb/s; mạng băng rộng di động 5G đạt tốc độ tối thiểu 100Mb/s và phủ sóng tới 99% dân số; 100% công dân Việt Nam từ 14 tuổi trở lên có căn cước và tài khoản định danh điện tử; 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác; trên 70% dân số từ 18 tuổi trở lên có chữ ký số hoặc chữ ký điện tử cá nhân...

Một thực trạng đã được đề cập nhiều những năm qua là quá trình chuyển đổi số dường như chưa thật sự phát huy hiệu quả tại vùng núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Khó khăn hiện hữu ở những nơi này là rất rõ, với chi phí đầu tư rất cao nhưng doanh thu thấp; địa hình, giao thông khó khăn; trình độ dân trí chưa cao... Đây có lẽ cũng là điểm nghẽn trong chuyển đổi số và rất cần nhận được sự quan tâm cụ thể của Đảng, Nhà nước cùng các chính sách hỗ trợ, ưu đãi trong đầu tư để các doanh nghiệp, đơn vị có động lực phủ sóng chuyển đổi số trên thực địa chứ không phải trên bản đồ.

Mục tiêu đặt ra về chữ ký số dành cho người dân cũng là điểm nhấn của Chương trình. Tuy nhiên, một chữ ký số cần được sử dụng theo hướng liên thông, từ khám, chữa bệnh, thủ tục hành chính, an sinh xã hội đến sản xuất-kinh doanh... chứ không thể trong mỗi lĩnh vực, mỗi người lại phải có 1 chữ ký. Muốn phát triển nhanh chữ ký số, các cơ quan chức năng cần đơn giản hóa các thủ tục đăng ký; nghiên cứu quy định cả hệ thống dùng chung và chấp nhận 1 chữ ký, đồng thời làm rõ các vấn đề về bảo mật, an toàn dữ liệu đối với chữ ký số của người dân.

Chương trình cũng đặt ra mục tiêu quan trọng: 10 triệu lượt người trong độ tuổi lao động sẽ được đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao kỹ năng số. Đây không chỉ là con số đặt ra mà rất cần được triển khai thực chất và số lượng người phải lớn hơn nữa, bởi các sản phẩm công nghệ được làm ra sẽ không có ý nghĩa nếu không có người sử dụng và biết sử dụng. Tuy nhiên, kết quả của tập huấn không nên chỉ “đo, đếm” bằng số lượng người tham gia, đến ngồi nghe mà cần được đánh giá bằng việc người dân sử dụng thành thạo công nghệ đó trong cuộc sống hằng ngày. Đối tượng tập huấn cũng cần được chú trọng hợp lý theo hướng ưu tiên người cao tuổi, nông dân, công nhân, lao động di cư, đồng bào dân tộc thiểu số... Trong giai đoạn đầu, chúng ta cần duy trì sự hỗ trợ, điểm hỗ trợ về công nghệ đối với người dân, nhất là đối với những người chưa thành thạo, chưa có nhiều điều kiện để tiếp xúc, làm quen với công nghệ...

Chuyển đổi số ở nước ta đã và đang đạt được những thành tựu quan trọng, xóa bỏ nhiều rào cản, thách thức mà trước đây tưởng như rất khó vượt qua.

Chúng ta đang hướng đến xã hội số chứa đựng nhiều nội dung thực chất hơn, sâu sắc hơn chứ không thể chỉ thể hiện bằng số lượng người sử dụng các sản phẩm công nghệ. Phải làm sao để người dân thấy thuận lợi, tâm đắc, tin tưởng và làm chủ công nghệ cũng chính là yêu cầu mà các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước thường xuyên nhấn mạnh khi nói về chuyển đổi số.

Để thật sự có một xã hội số chuẩn mực, cả hệ thống chính trị cần quyết liệt thay đổi phương thức quản lý, điều hành, sẵn sàng chấp nhận thử thách và dám chịu trách nhiệm. Trên cơ sở đó, các mục tiêu Chương trình đến năm 2030 sẽ sớm thành hiện thực nếu chính sách đủ đồng bộ, liên thông, lấy người dân làm trung tâm, và nếu chúng ta dám nhìn thẳng, quyết liệt tháo gỡ điểm nghẽn của chính mình ■

Đinh Song Linh

Quyết định số 1033/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển kinh tế số và xã hội số giai đoạn 2026-2030 đã xác lập hệ thống mục tiêu hạ tầng đồng bộ. Đề án đặt trọng tâm phổ cập cáp quang tối thiểu 1Gb/s đến từng hộ gia đình, phủ sóng 5G đạt 99% dân số và định danh điện tử toàn diện cho công dân từ 14 tuổi. Việc nâng tỷ lệ người dân sở hữu tài khoản ngân hàng lên 95% và trên 70% có chữ ký số cá nhân khẳng định quyết tâm hiện đại hóa giao dịch xã hội. Dù vậy, khoảng cách số tại vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo vẫn là rào cản lớn do chi phí hạ tầng cao cùng dung lượng thị trường thấp. Thực tế đòi hỏi các cơ chế hỗ trợ tài chính và ưu đãi đầu tư thiết thực để các doanh nghiệp công nghệ phủ sóng thực chất ngoài thực địa. Đồng thời, công cụ chữ ký số phải được quy hoạch liên thông đồng bộ từ hành chính, y tế đến an sinh thay vì phân mảnh theo từng lĩnh vực chuyên ngành. Chỉ tiêu đào tạo kỹ năng số cho 10 triệu lao động cần chuyển dịch từ hình thức điểm danh sang thước đo mức độ ứng dụng thành thạo hằng ngày. Các chương trình bồi dưỡng phải ưu tiên trực tiếp nhóm đối tượng yếu thế như nông dân, công nhân, người cao tuổi và đồng bào dân tộc thiểu số thông qua những điểm hỗ trợ trực tiếp. Thước đo thành công của một xã hội số văn minh chính là chiều sâu thụ hưởng thực tế của từng người dân.
amung