Theo báo cáo nhanh của Sở Y tế, đến hết ngày 21/9, thành phố đã khám sức khỏe cho 2.909.369 người, đạt 33,8% tổng số đối tượng thuộc các nhóm thống kê của chương trình; trong đó đã có 2.106.526 em học sinh được khám sức khỏe, đạt 94,2%. Qua khám, ngành y tế phát hiện 8.479 trường hợp mắc bệnh mới và chuyển 737 trường hợp đến cơ sở y tế tiếp tục điều trị.
Cùng với đó, Hà Nội đã có 1.289.065 hồ sơ sức khỏe được cập nhật thành công lên Cổng dữ liệu sức khỏe của Bộ Y tế, đứng thứ 2/34 tỉnh, thành phố về số lượng hồ sơ cập nhật. Việc gắn kết quả khám với hồ sơ sức khỏe điện tử đã hình thành dữ liệu phục vụ theo dõi, quản lý và chăm sóc sức khỏe người dân theo vòng đời.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, phân tích số người đi khám sức khỏe theo nhóm đối tượng cho thấy, số lượng người cao tuổi, đối tượng chính sách, người khuyết tật, mắc bệnh mạn tính (nhóm 1) cùng các đối tượng còn lại trong độ tuổi lao động tự do và người chưa có hợp đồng lao động (nhóm 5) đi khám còn thấp.
Nguyên nhân là do nhiều người cao tuổi, người thuộc diện chính sách đã có thẻ bảo hiểm y tế và quen khám tại các bệnh viện tuyến trên cho nên không muốn khám lại; một bộ phận người dân còn ngại thủ tục hành chính hoặc giữ thói quen chỉ đi khám khi thấy có bệnh. Một số địa phương cũng gặp khó trong việc hoàn thiện, cập nhật dữ liệu hồ sơ sức khỏe điện tử.
Tại buổi kiểm tra thực địa tại phường Láng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Vũ Thu Hà khẳng định, việc nhiều xã, phường trên địa bàn Thủ đô đã đạt tỷ lệ trên 90% chứng minh hệ thống kỹ thuật cùng quy trình chính sách hoàn toàn thông suốt. Lãnh đạo Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo, chương trình khám sức khỏe cho người dân phải về đích trước tháng 11/2026, cho nên các xã, phường có tỷ lệ người dân khám sức khỏe thấp cần triển khai theo hướng bài bản, chặt chẽ, tạo chuyển biến thực chất ngay trong tháng 10.
Công an phường phối hợp chặt chẽ các tổ dân phố khẩn trương rà soát số liệu nhân khẩu thực tế. Các địa phương chấm dứt tình trạng “ai đến thì khám”, thay vào đó, phải phát giấy mời trực tiếp theo từng khung giờ và từng tổ dân phố nhằm giúp cơ sở y tế chủ động điều tiết công suất, người dân không phải chờ đợi lâu.
Địa phương cần linh hoạt trong việc bố trí khám sức khỏe cho những trường hợp lao động tự do. Đối với công dân đã khám định kỳ theo diện bảo hiểm y tế tại các bệnh viện tuyến trên, chính quyền cần phải lập danh sách xác nhận để kết nối, trích xuất dữ liệu đồng bộ về hệ thống chung để bảo đảm độ bao phủ thực chất và tránh khám trùng lặp gây lãng phí nguồn lực.
Khi từng địa bàn tổ chức khoa học, linh hoạt và bảo đảm chất lượng việc khám sức khỏe, thành phố mới có cơ sở hoàn thành mục tiêu khám sức khỏe toàn dân đúng thời hạn, để mỗi người đều thật sự được thụ hưởng chính sách chăm sóc sức khỏe từ sớm, từ cơ sở.
VIỆT ANH