Bỏ qua điều hướng
•

Tiền vẫn chảy vào ngân hàng, có đáng lo?

Tiền vẫn chảy vào ngân hàng, có đáng lo?
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Tốc độ tăng trưởng tiền gửi vào ngân hàng những tháng gần đây tăng lên, giúp các nhà băng có thêm lượng tiền cho doanh nghiệp, cá nhân vay phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng.

Người dân, doanh nghiệp vẫn chọn ngân hàng gửi tiền nhàn rỗi

Dữ liệu từ Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho thấy tính đến cuối tháng 8, lượng tiền gửi vào các NH là 17,771 triệu tỉ đồng. Trong đó, khối khách hàng cá nhân gửi hơn 11,434 triệu tỉ đồng, còn lại 6,337 triệu tỉ đồng thuộc các tổ chức kinh tế. Lượng tiền gửi của khách hàng cá nhân tăng 10,63% so với cuối năm ngoái khi thêm 1,099 triệu tỉ đồng, ghi nhận mức tăng liên tục qua các tháng. Còn khách hàng tổ chức tăng 2,54% so với cuối năm 2025, tương đương mức đi lên 157.000 tỉ đồng.

Ở chiều ngược lại, tính đến ngày 26.10, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt khoảng 20,8 triệu tỉ đồng, tăng 11,94% so với cuối năm 2025. Ước tính, quy mô tín dụng đã tăng thêm hơn 2,2 triệu tỉ đồng từ đầu năm. Khoảng 77,44% dư nợ toàn nền kinh tế phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tính trên quy mô dư nợ khoảng 20,8 triệu tỉ đồng, tỷ trọng này tương ứng khoảng 16,1 triệu tỉ đồng.

Chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu cho rằng việc người dân và doanh nghiệp gửi tiền vào hệ thống NH nhìn chung là tín hiệu tích cực. Nguồn tiền nhàn rỗi được tập trung tại các định chế tài chính sẽ tạo điều kiện để vốn được luân chuyển đến những chủ thể có nhu cầu đầu tư, sản xuất và kinh doanh.

Tiền vẫn chảy vào ngân hàng, có đáng lo?- Ảnh 1.

Khách gửi tiền vào ngân hàng tăng lên khi lãi suất ở mức cao

Ảnh: Độc Lập

Theo ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Đầu tư cá nhân Công ty Chứng khoán An Bình (ABS), cần phân biệt bối cảnh hiện nay với giai đoạn trước. Khi đó, sức cầu tiêu dùng yếu khiến doanh nghiệp không có đầu ra, thiếu động lực sản xuất nên lựa chọn gửi tiền nhàn rỗi vào NH. Ngược lại, hiện nay nhu cầu sản xuất vẫn lớn, nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đã có đơn hàng nhưng thiếu vốn mua nguyên vật liệu, tổ chức sản xuất.

"Trong bối cảnh hiện nay, tôi không quá lo ngại dòng tiền huy động được từ NH không chảy vào sản xuất, kinh doanh, bởi nhu cầu vốn của khu vực này vẫn hiện hữu. Khi thanh khoản hệ thống được cải thiện, NH sẽ có điều kiện đưa vốn ra nền kinh tế. Tuy nhiên, dòng vốn sẽ được phân bổ thận trọng và chọn lọc hơn, ưu tiên những lĩnh vực có khả năng thu hồi vốn tốt, thay vì chạy đua tín dụng vào hạ tầng hay bất động sản - những lĩnh vực có vòng quay vốn chậm và còn tiềm ẩn rủi ro thanh khoản. Do đó, dòng tiền nhiều khả năng sẽ dịch chuyển vào sản xuất, kinh doanh khi thanh khoản NH ổn định trở lại. Tiền vẫn chảy vào NH không có nghĩa là vốn bị nằm im trong nhà băng. Lượng tiền huy động được cho doanh nghiệp vay để đưa vốn trở lại sản xuất. Dù vậy, điều kiện quan trọng là các NH vẫn phải còn dư địa tăng trưởng tín dụng để giải ngân", ông Minh phân tích.

Khơi thông vốn cho sản xuất, kinh doanh

Ông Nguyễn Thế Minh nhìn nhận trong bối cảnh hiện tại, việc tiền gửi tăng mạnh vào hệ thống NH là tín hiệu tích cực, bởi thanh khoản của hệ thống đang thiếu hụt. Nguồn vốn huy động tăng sẽ giúp các NH cải thiện thanh khoản, giảm áp lực cân đối vốn và hạn chế rủi ro nợ xấu. Tuy nhiên, dòng tiền có thực sự chảy vào nền kinh tế, đặc biệt là khu vực sản xuất, kinh doanh hay không còn phụ thuộc định hướng tín dụng và khả năng giải ngân của các NH.

Ở góc độ cá nhân, ông Minh phân tích: Dòng vốn nhiều khả năng sẽ dịch chuyển vào sản xuất, kinh doanh nhưng theo hướng chọn lọc, bởi các NH hiện phải ưu tiên đảm bảo thanh khoản, thay vì tập trung vào những lĩnh vực có vòng quay vốn chậm, thời gian thu hồi vốn dài. Dù vậy ông Minh cũng lưu ý từ quý 3/2025 đến nay, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm nhỏ và vừa, gặp khó khăn về thanh khoản do thiếu vốn sản xuất và áp lực trả nợ. Nếu tình trạng này kéo dài, nguy cơ doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và phát sinh nợ xấu sẽ gia tăng, buộc NH phải trích lập dự phòng, ảnh hưởng đến lợi nhuận. Một nút thắt khác là dư địa tăng trưởng tín dụng của một số NH đã gần chạm trần, thậm chí hạn mức cho vay bất động sản đã được sử dụng hết. Vì thế, dù thanh khoản cải thiện, NH chưa chắc có thể đẩy mạnh cho vay nếu không còn hạn mức tín dụng. Không loại trừ khả năng nhà điều hành xem xét điều chỉnh tăng hạn mức tăng trưởng tín dụng để tạo thêm dư địa giải ngân. Ngoài ra, khi thanh khoản tăng, chi phí vốn đầu vào giảm, các NH có thể điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, góp phần hạ mặt bằng lãi suất và giảm chi phí tài chính cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, bài toán cốt lõi vẫn là khả năng đưa nguồn vốn huy động ra nền kinh tế.

Với mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, chuyên gia Nguyễn Trí Hiếu cho rằng trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào tín dụng NH, dòng tiền tiếp tục chảy vào hệ thống NH là tín hiệu tích cực. Tuy nhiên, vấn đề đáng quan tâm là cấu trúc thị trường vốn hiện chưa cân đối. Với tỷ lệ tín dụng/GDP gần 150%, phần lớn doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào vốn vay NH, trong khi thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa đủ chiều sâu, thị trường cổ phiếu chưa trở thành kênh huy động vốn chủ lực và khả năng tiếp cận vốn quốc tế chủ yếu tập trung ở các doanh nghiệp lớn.

Việt Nam không chỉ cần thêm nguồn vốn mà quan trọng hơn là cần cấu trúc thị trường vốn đủ khả năng phân bổ nguồn lực hiệu quả… Mục tiêu không phải làm suy giảm vai trò của ngân hàng, mà là phát triển thị trường vốn đa dạng hơn để ngân hàng tiếp tục giữ vai trò trụ cột nhưng không phải gánh gần như toàn bộ nhu cầu tài trợ của nền kinh tế.

Chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu

Theo ông Hiếu, đây là nghịch lý của nền kinh tế: muốn đạt tăng trưởng 2 con số phải mở rộng tín dụng, nhưng tín dụng tăng quá nhanh lại làm gia tăng rủi ro cho hệ thống tài chính. Nếu tiếp tục đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao mà không cải thiện thị trường vốn, nền kinh tế có thể tích lũy thêm rủi ro. Ngược lại, nếu giảm tín dụng quá nhanh khi chưa có nguồn vốn thay thế, doanh nghiệp sẽ thiếu vốn duy trì và mở rộng sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, giải pháp không phải đột ngột giảm tín dụng mà cần từng bước đa dạng hóa nguồn vốn, giảm sự phụ thuộc quá lớn vào NH.

"Việt Nam không chỉ cần thêm nguồn vốn mà quan trọng hơn là cần cấu trúc thị trường vốn đủ khả năng phân bổ nguồn lực hiệu quả. Trong đó, NH tiếp tục cung cấp vốn lưu động, vốn ngắn và trung hạn; thị trường cổ phiếu đảm nhiệm huy động vốn chủ sở hữu và vốn dài hạn; trái phiếu doanh nghiệp cung cấp vốn trung, dài hạn; các quỹ đầu tư tư nhân bổ sung vốn cho doanh nghiệp chưa niêm yết. Bên cạnh đó, trung tâm tài chính quốc tế có thể góp phần kết nối dòng vốn và dịch vụ tài chính quốc tế. Điều quan trọng là phải phát triển đồng bộ các kênh này, thay vì kỳ vọng việc nâng hạng thị trường chứng khoán hay thành lập trung tâm tài chính có thể tự giải quyết bài toán vốn. Mục tiêu không phải làm suy giảm vai trò của NH, mà là phát triển thị trường vốn đa dạng hơn để NH tiếp tục giữ vai trò trụ cột nhưng không phải gánh gần như toàn bộ nhu cầu tài trợ của nền kinh tế", ông Hiếu nhấn mạnh.

80% là tiền gửi ngắn hạn

Trả lời trước Quốc hội, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn nhận định người dân chọn gửi tiền vào NH bởi vì cơ bản vẫn tin vào hệ thống NH. Sau này, khi thị trường vốn phát triển, có sức hấp dẫn hơn, bảo đảm tính an toàn để người dân có thể đầu tư thì chắc chắn sự cân bằng sẽ khác đi. Dù tiền gửi ngắn hạn chiếm tới 80% tổng tiền gửi nhưng thực tế người dân thường gửi quay vòng trong thời gian dài. Đối với tín dụng bất động sản, NHNN kiểm soát để bảo đảm tăng trưởng. Hiện nay, mức tăng trưởng tín dụng bất động sản là 9,84%, thấp hơn so với tăng trưởng chung của nền kinh tế.

Lượng tiền gửi vào hệ thống ngân hàng tiếp tục xác lập mức kỷ lục mới khi đạt 17,771 triệu tỉ đồng tính đến cuối tháng 8, tăng mạnh ở cả khối khách hàng cá nhân lẫn tổ chức kinh tế. Đáng chú ý, tiền gửi cá nhân đạt hơn 11,434 triệu tỉ đồng, tăng 10,63% so với cuối năm ngoái và ghi nhận đà đi lên liên tục qua các tháng. Xu hướng tích lũy này diễn ra song hành cùng tăng trưởng tín dụng khi dư nợ toàn nền kinh tế đạt khoảng 20,8 triệu tỉ đồng vào cuối tháng 10, tăng 11,94% từ đầu năm. Thực tế dòng vốn cho thấy tiền không hề nằm im trong két sắt nhà băng mà đang tích cực luân chuyển vào nền kinh tế thực. Khoảng 77,44% tổng dư nợ, tương đương 16,1 triệu tỉ đồng, hiện được tập trung phục vụ cho các hoạt động sản xuất và kinh doanh. Theo chuyên gia tài chính Nguyễn Trí Hiếu, việc người dân cùng doanh nghiệp chủ động gửi tiền nhàn rỗi tạo nền tảng vững chắc để các định chế tài chính điều tiết vốn đến những chủ thể có nhu cầu phát triển. Dưới góc nhìn thị trường, ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Đầu tư cá nhân Công ty Chứng khoán An Bình, đánh giá nguồn tiền gửi dồi dào là chỉ dấu tích cực giúp giải tỏa áp lực thanh khoản và giảm thiểu rủi ro nợ xấu. Khác với giai đoạn sức cầu suy yếu trước đây, nhiều doanh nghiệp hiện nay đã có đơn hàng nhưng rất cần nguồn tài trợ để nhập nguyên vật liệu tổ chức sản xuất. Khi thanh khoản dần ổn định và ngân hàng còn dư địa tăng trưởng tín dụng, dòng vốn sẽ được thẩm định chọn lọc, ưu tiên rót vào các khu vực tạo ra giá trị gia tăng cao.
amung