Bỏ qua điều hướng
•

Tiền xanh đang đi đâu?

Tiền xanh đang đi đâu?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Dư nợ tín dụng xanh tại Việt Nam đã tăng lên hàng trăm nghìn tỷ đồng nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng dễ tiếp cận. Nghịch lý là muốn xanh cần vốn, muốn vay vốn lại cần chứng minh mình đang xanh.

Trong khi các dự án lớn có lợi thế về quy mô và năng lực lập hồ sơ, không ít doanh nghiệp nhỏ vẫn loay hoay với bài toán thiếu dữ liệu, thiếu tài sản bảo đảm và chi phí chuyển đổi ban đầu. Tiền xanh đang chảy vào đâu và làm thế nào để dòng vốn này đến được những nơi thực sự cần?

Dòng tiền tăng tốc, cánh cửa chưa mở đều

Doanh nghiệp muốn thay thế dây chuyền sản xuất cũ bằng công nghệ tiết kiệm năng lượng, cơ sở chế biến nông sản muốn tận dụng phụ phẩm thay vì thải bỏ, bên tái chế cần đầu tư máy móc để nâng cao chất lượng nguyên liệu đầu vào... Những thay đổi ấy có thể giúp tiết kiệm tài nguyên, giảm chất thải và cải thiện năng lực cạnh tranh nhưng để thực hiện được, doanh nghiệp cần vốn.

Lúc này, tín dụng xanh được kỳ vọng phát huy vai trò, đó là đưa nguồn lực tài chính đến các hoạt động góp phần bảo vệ môi trường, sử dụng tài nguyên hiệu quả và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

Tiền xanh đang đi đâu? - 1

Tín dụng xanh tăng trưởng, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn (Ảnh: FM).

Tại một hội thảo, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - cho biết, dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đạt khoảng 828.000 tỷ đồng, với tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm trong giai đoạn 2017-2025. Trước đó, cuối năm 2025, con số này đạt gần 780.000 tỷ đồng.

Những con số cho thấy dòng vốn xanh đang mở rộng. Tuy nhiên, quy mô dư nợ tăng lên chưa đồng nghĩa mọi nhóm doanh nghiệp đều có cơ hội tiếp cận vốn như nhau.

Năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và nông nghiệp xanh là những lĩnh vực đã thu hút sự quan tâm đáng kể của hệ thống ngân hàng. Đây cũng là những ngành có nhu cầu đầu tư lớn, gắn với mục tiêu chuyển dịch năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên.

Trong khi đó, nhiều dự án cải tiến công nghệ tại doanh nghiệp nhỏ, đầu tư xử lý chất thải hoặc phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn có thể gặp khó khăn hơn khi tiếp cận tín dụng. Vấn đề không nhất thiết nằm ở việc ngân hàng không muốn cho vay, mà có thể xuất phát từ khoảng cách giữa yêu cầu thẩm định của tổ chức tín dụng và năng lực chuẩn bị dự án của doanh nghiệp.

Theo phản ánh tại các hội thảo về tín dụng xanh trong năm nay, nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ còn hạn chế về dữ liệu môi trường, tiêu chuẩn quản trị và hồ sơ tài chính. Những yếu tố khiến việc chứng minh tính xanh cũng như khả năng trả nợ trở nên khó khăn hơn.

Nghịch lý muốn xanh phải có vốn, muốn vay vốn lại phải chứng minh mình xanh

Một doanh nghiệp sản xuất quy mô nhỏ muốn đầu tư hệ thống xử lý nước thải, thay thế thiết bị tiêu hao nhiều điện năng hoặc chuyển sang sử dụng nguyên liệu tái chế. Doanh nghiệp có thể nhận thấy lợi ích rõ ràng từ việc đổi mới công nghệ, nhưng khoản đầu tư ban đầu không nhỏ.

Để vay vốn, doanh nghiệp phải xây dựng phương án kinh doanh, chứng minh hiệu quả đầu tư, đáp ứng yêu cầu tín dụng và cung cấp thông tin cần thiết về tác động môi trường. Trong khi đó, chính việc thiếu tiền đầu tư lại khiến doanh nghiệp chưa thể có hệ thống đo lường, dữ liệu vận hành hay quy trình quản trị đạt yêu cầu.

Khi đó, gần như một vòng luẩn quẩn xuất hiện. Doanh nghiệp muốn chuyển đổi xanh cần vốn, nhưng muốn tiếp cận vốn xanh lại phải có đủ năng lực chứng minh phương án chuyển đổi.

Đối với doanh nghiệp lớn, việc thuê tư vấn, xây dựng hệ thống quản trị dữ liệu hay lập báo cáo môi trường có thể nằm trong khả năng tài chính. Nhưng với một cơ sở sản xuất nhỏ, những khoản chi phí này có thể trở thành rào cản đáng kể trước cả khi dự án được triển khai.

Phát biểu tại hội nghị tài chính xanh Việt Nam 2026, ông Nguyễn Quang Thuân - Chủ tịch Fiing Group & Finratings nói về 5 yếu tố: các chính sách hỗ trợ cụ thể về thuế; luật quốc tế; cho làm những thứ mới, cụ thể là sandbox; kiểm soát giao dịch tiền vào tiền ra ở mức như thế nào, chấp nhận khẩu vị rủi ro như thế nào. Cuối cùng quan trọng nhất là sản phẩm, tính hấp dẫn về tài chính, kinh tế, tính khả thi là điều quan trọng nhất. 

Có thể hiểu rằng mục tiêu bảo vệ môi trường có thể gia tăng sức hấp dẫn đối với nhà đầu tư, nhưng không thể thay thế những điều kiện nền tảng như cơ chế hỗ trợ, hành lang pháp lý minh bạch, khả năng kiểm soát rủi ro và triển vọng sinh lời. Đây là điều mà doanh nghiệp cần lưu ý khi muốn thu hút vốn đầu tư xanh.

Đích đến không chỉ là những dự án lớn

Tiền xanh đang mở ra cơ hội cho quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng nhưng đích đến của dòng vốn này không nên chỉ được đo bằng số tiền đã giải ngân hay số dự án được gắn nhãn xanh. Câu hỏi quan trọng hơn là nguồn vốn đã giúp bao nhiêu doanh nghiệp đổi mới công nghệ, bao nhiêu cơ sở sản xuất tiết kiệm năng lượng, bao nhiêu phụ phẩm được tái sử dụng và bao nhiêu tác động môi trường được giảm thiểu.

Muốn trả lời đầy đủ câu hỏi “tiền xanh đang đi đâu?”, thị trường cần những dữ liệu minh bạch hơn về phân bổ vốn, nhu cầu chưa được đáp ứng và kết quả thực tế của từng nhóm dự án. Dòng vốn xanh cần đi đến những dự án có khả năng tạo ra giá trị bền vững, nhưng cũng cần một cơ chế để doanh nghiệp có tiềm năng không bị loại khỏi cuộc chơi chỉ vì thiếu năng lực chứng minh ngay từ đầu.

Dư nợ tín dụng xanh toàn hệ thống đã đạt khoảng 828.000 tỷ đồng, duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm trong giai đoạn 2017-2025. Nguồn lực tài chính này được kỳ vọng sẽ thúc đẩy sử dụng tài nguyên hiệu quả, hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới công nghệ và hướng tới tăng trưởng bền vững. Tuy nhiên, quy mô vốn gia tăng chưa đồng nghĩa với việc cơ hội tiếp cận đang được chia đều cho mọi thành phần kinh tế. Thực tế ghi nhận dòng vốn xanh hiện tập trung chủ yếu vào năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và nông nghiệp xanh nhờ quy mô lớn cùng hồ sơ dự án hoàn chỉnh. Ngược lại, các doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhu cầu cải tiến công nghệ hoặc xử lý chất thải lại gặp nhiều rào cản khi tiếp cận ngân hàng. Khoảng cách lớn giữa năng lực hoàn thiện hồ sơ của doanh nghiệp và tiêu chuẩn thẩm định khắt khe khiến dòng vốn chưa thể phân bổ đồng đều. Nhiều cơ sở sản xuất quy mô nhỏ đang rơi vào vòng luẩn quẩn khi muốn chuyển đổi xanh cần vốn, nhưng muốn được giải ngân lại phải chứng minh tính xanh ngay từ đầu. Do hạn chế về nguồn lực đầu tư ban đầu, nhóm doanh nghiệp này thiếu hụt dữ liệu môi trường, hệ thống đo lường vận hành và hồ sơ quản trị đạt chuẩn. Việc thu hẹp khoảng cách thẩm định và tháo gỡ điểm nghẽn dữ liệu chính là chìa khóa để nguồn vốn xanh lan tỏa hiệu quả đến toàn bộ nền kinh tế.
amung