Bỏ qua điều hướng
•

Tìm động lực tài chính mới cho ngành lâm nghiệp

Tìm động lực tài chính mới cho ngành lâm nghiệp
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Nghị định 112/2026/NĐ-CP quy định về trao đổi quốc tế kết quả giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, có hiệu lực từ ngày 19/5. Ngành lâm nghiệp Việt Nam đứng trước cơ hội mới tiếp cận thị trường carbon quốc tế, gia tăng giá trị những cánh rừng.

Nguyên tắc định giá carbon rừng

Ngay sau đó, Nghị định 180/2026/NĐ-CP Quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng ban hành ngày 21/5, có hiệu lực từ 15/7. Theo đó, doanh nghiệp được phép mua tín chỉ carbon rừng để bù trừ phát thải khí nhà kính. Nghị định 180 đưa ra các nguyên tắc, cơ chế và hợp đồng liên quan đến việc cung ứng, sử dụng dịch vụ môi trường rừng, đăng ký dự án carbon rừng và giao dịch tín chỉ carbon. Trong khi Nghị định 112 mở cách tiếp cận nguồn kinh phí chi trả từ thị trường carbon quốc tế. Với việc hành lang pháp lý đã rộng mở, nhiều địa phương và doanh nghiệp trong nước đang dành sự quan tâm rất lớn với các dự án kinh doanh tín chỉ carbon rừng. Đây cũng được xem là hướng đi mới để phát triển kinh tế lâm nghiệp của các địa phương.

Phân tích về tác động của chính sách mới, TS Nguyễn Phương Nam, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn và dịch vụ Đổi mới khí hậu Klinova cho rằng, khung pháp lý hiện hành đã tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án carbon rừng. Ông khẳng định: “Các dự án carbon rừng đã có hành lang pháp lý để chuyển giao tối đa 90% số lượng tín chỉ ra thị trường quốc tế. Những dự án thuộc danh mục công nghệ cao hoặc có suất đầu tư lớn còn được ưu tiên tỷ lệ chuyển giao tối đa để thu hút vốn đầu tư nước ngoài”. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần định hình chính xác mô hình thương mại hóa sản phẩm, đồng thời đăng ký với Hệ thống đăng ký quốc gia để tránh chồng lấn và nâng cao giá trị thương phẩm.

Hiện tại, có hai hình thức tài chính là chi trả trực tiếp và chi trả thông qua cơ chế ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng (BVPTR). Quỹ này đóng vai trò là cơ quan trung gian thực hiện việc tiếp nhận, quản lý, điều tiết và phân bổ nguồn kinh phí theo quy định pháp luật.

Thông qua Quỹ BVPTR, nguồn tiền thu được từ việc bán tín chỉ carbon hoặc dịch vụ môi trường rừng phải được dành phần lớn để tái đầu tư trực tiếp cho các hoạt động quản lý, bảo vệ và phát triển rừng. Một phần được phân bổ chi trả hỗ trợ cho các cộng đồng địa phương, hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng… Một phần khác cũng được trích để phục vụ các hoạt động bổ sung cần thiết của dự án carbon, bao gồm chi phí xây dựng văn kiện dự án, đăng ký, báo cáo...

TS Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững cho biết, tín chỉ carbon rừng chỉ được cấp khi doanh nghiệp chứng minh được lượng carbon tăng thêm thực tế so với mức được đưa ra trong kịch bản cơ sở. Ông lưu ý rằng, hiện nay một số đơn vị muốn triển khai biện pháp can thiệp lâm sinh trong dự án carbon rừng, như chuyển đổi từ rừng trồng gỗ ngắn hạn sang rừng trồng gỗ lớn chu kỳ dài, hoặc cải tiến kỹ thuật canh tác và trồng lại sau khai thác, trồng xen cây thân gỗ vào đất nông nghiệp hoặc đất trồng cây lâu năm… Những biện pháp này phải chứng minh được có gia tăng sinh khối hoặc giảm phát thải rõ rệt mới tạo ra lợi ích carbon tiềm năng. Các chủ rừng cần thực hiện công tác thẩm định độc lập bởi bên thứ ba đạt tiêu chuẩn ISO trước khi đăng ký cấp tín chỉ lên hệ thống quốc gia.

Từ tuân thủ thụ động sang chủ động dẫn dắt

Theo các quy định, hướng dẫn, một tín chỉ carbon rừng không áp dụng một mức giá cố định chung cho mọi khu rừng. Giá bán được xác định dựa trên chi phí thực tế tạo ra tín chỉ, chất lượng của dự án carbon rừng, khả năng duy trì lượng carbon lâu dài và tình hình giao dịch thực tế trên thị trường.

Trên thực tế, đối với những doanh nghiệp trực tiếp quản lý diện tích cây thân gỗ quy mô lớn, việc tiếp cận thị trường carbon hiện vẫn đối mặt với nhiều khó khăn. Ông Hoàng Bảo Luân, Phó Giám đốc Khối khoa học công nghệ, Tổng công ty Cao su Đồng Nai chia sẻ: “Tín chỉ carbon là có thật nhưng đối với ngành cao su và lâm nghiệp thì đây không phải là cơ hội dễ dàng để có được nguồn thu ngay trong ngắn hạn”. Một trong những vướng mắc lớn nhất là tư cách pháp lý của chủ thể thuê đất trồng cây lâu năm khi đăng ký. Áp lực từ biến động quy hoạch đất đai đô thị và hạ tầng cũng khiến các cam kết duy trì dự án kéo dài từ 8 đến 10 năm gặp nhiều rủi ro. Doanh nghiệp kiến nghị Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm ban hành hướng dẫn kỹ thuật riêng và cơ chế gom nhóm dự án quy mô lớn để giảm chi phí tư vấn.

Khung chính sách quản lý nhà nước đối với carbon rừng đã được tích hợp toàn diện vào Nghị định 180/2026/NĐ-CP về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng. Bên cạnh đó, Thông tư 31/2026/TT-BNNMT do Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành ngày 15/7 và có hiệu lực cùng ngày, đã lần đầu tiên quy định chi tiết phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, đồng thời hướng dẫn phương pháp định giá rừng và định khung giá rừng. Các quy định này đặt ra các điều kiện cụ thể cho cả bên cung ứng tín chỉ lẫn bên có nhu cầu sử dụng để bảo đảm tính minh bạch.

Ths Vũ Thị Thu Thúy, Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết: “Toàn bộ nguồn thu từ chuyển nhượng tín chỉ carbon rừng phải được tái đầu tư phần lớn cho các hoạt động bảo vệ, phát triển rừng và chi trả cho cộng đồng”. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý sẽ kiểm soát chặt chẽ tỷ lệ tín chỉ được phép giao dịch quốc tế của từng dự án nhằm bảo đảm mục tiêu về Kế hoạch hành động và cam kết tự nguyện của mỗi quốc gia trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu (NDC) quốc gia. Các chủ rừng thuộc sở hữu toàn dân theo quy định của Luật Lâm nghiệp 2017 như rừng tự nhiên; rừng trồng do Nhà nước đầu từ nguồn vốn ngân sách nhà nước, các dự án, hoặc nhiệm vụ khoa học và công nghệ hoặc rừng trồng được chuyển giao cho Nhà nước, phải áp dụng phương pháp xác định mức chi trả tín chỉ carbon rừng theo Thông tư 31/2026, trước khi thực hiện mua bán trên thị trường.

Đánh giá về định hướng phát triển của ngành nông, lâm sản với nguồn thu từ tín chỉ carbon, TS Tô Xuân Phúc thuộc Mạng lưới Nghiên cứu chính sách nông lâm nghiệp, nhận định: “Ngành lâm nghiệp cần chuyển từ thế tuân thủ thụ động sang chủ động dẫn dắt chuỗi giá trị thông qua việc chuẩn hóa dữ liệu carbon và quản trị rừng bền vững”. Theo ông Phúc, doanh thu từ tín chỉ carbon nên được coi là nguồn tài chính thưởng bổ sung chứ không phải là mục tiêu duy nhất của chủ rừng. Việc chuyển đổi sang canh tác phát thải thấp phải lấy việc bảo vệ sinh thái rừng và sinh kế cộng đồng làm nền tảng cốt lõi. Sự kết hợp giữa thương mại carbon và xây dựng thương hiệu sản phẩm xanh sẽ tạo nên sức mạnh cạnh tranh bền vững cho lâm nghiệp Việt Nam.

VÂN SƠN

Sự ra đời liên tiếp của Nghị định 112/2026/NĐ-CP và Nghị định 180/2026/NĐ-CP đang thiết lập hành lang pháp lý đồng bộ, tạo động lực tài chính mới cho ngành lâm nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường carbon trong nước và quốc tế. Trong khi Nghị định 112 mở đường cho hoạt động trao đổi tín chỉ carbon toàn cầu từ ngày 19/5, Nghị định 180 có hiệu lực từ ngày 15/7 chính thức cho phép doanh nghiệp mua tín chỉ carbon rừng để bù trừ phát thải khí nhà kính. Theo phân tích của TS Nguyễn Phương Nam, Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn và dịch vụ Đổi mới khí hậu Klinova, các dự án hiện được phép chuyển giao tối đa 90% số lượng tín chỉ ra thị trường quốc tế, đặc biệt ưu tiên tỷ lệ tối đa cho những dự án công nghệ cao hoặc có suất đầu tư lớn. Bên cạnh hình thức chi trả trực tiếp, dòng tiền vận hành qua Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng giữ vai trò điều tiết then chốt, bảo đảm nguồn thu được tái đầu tư thỏa đáng cho công tác bảo vệ rừng và hỗ trợ sinh kế cho các hộ nhận khoán. Tuy nhiên, rào cản kỹ thuật đòi hỏi các chủ rừng phải chuyển đổi căn bản từ tư duy thụ động sang đáp ứng các chuẩn mực quốc tế khắt khe. TS Vũ Tấn Phương, Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Quản lý rừng bền vững lưu ý rằng tín chỉ chỉ được công nhận khi chứng minh được lượng carbon tăng thêm thực tế so với kịch bản cơ sở thông qua các biện pháp can thiệp lâm sinh rõ rệt. Toàn bộ hồ sơ cũng bắt buộc phải trải qua quy trình thẩm định độc lập từ bên thứ ba đạt tiêu chuẩn ISO trước khi đăng ký chính thức lên Hệ thống đăng ký quốc gia.
amung