Bỏ qua điều hướng
•

Tìm giải pháp bền vững cho vùng ven biển Cà Mau

Tìm giải pháp bền vững cho vùng ven biển Cà Mau
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Chính quyền tỉnh Cà Mau cam kết tạo mọi điều kiện thuận lợi về cơ chế, chính sách để thí điểm các công nghệ gây bồi, tạo bãi bồi ven biển và thu hút nguồn lực đầu tư cho hạ tầng thủy lợi.

Đây cũng là bước đi có lộ trình của tỉnh nhằm chủ động chuyển từ ứng phó thụ động sang chủ động kiểm soát rủi ro theo tinh thần Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 166/NQ-CP của Chính phủ.

Mở hướng thoát cặn bồi, phục hồi dải rừng ngập mặn

Là địa phương duy nhất trong cả nước có ba mặt giáp biển và tiếp giáp cả Biển Đông và Biển Tây, Cà Mau sở hữu hệ sinh thái ven biển trù phú nhưng cũng là nơi chịu tác động nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu, nước biển dâng và hiện tượng sụt lún địa chất và suy giảm tài nguyên nước ngọt nghiêm trọng.

Thực tế đã qua, mỗi năm, hàng trăm héc-ta đất và rừng ven biển của Cà Mau bị sóng dữ nuốt chửng, trong khi bùn cát nạo vét từ các dự án thủy lợi, giao thông thủy lại chưa được sử dụng hiệu quả, gây tốn kém kinh phí và nguy cơ ô nhiễm sinh thái.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thanh Tùng, Phó Trưởng khoa Công trình, Trường đại học Thủy lợi, hoạt động nạo vét hệ thống thủy lợi, luồng lạch hiện nay ở Cà Mau gặp khó về nơi đổ thải. Nếu tiếp tục đổ bùn cát ra biển hay san lấp thiếu kiểm soát, không chỉ lãng phí mà còn đe dọa sinh thái rừng ngập mặn. Từ cơ sở nêu trên, ông Tùng đề xuất giải pháp đổi mới công tác quản lý và công nghệ duy tu nạo vét.

Thay vì xem bùn nạo vét là “chất thải”, cần quy hoạch sử dụng đây như một nguồn tài nguyên. Theo đó, bùn cát sau khi nạo vét có thể dẫn theo đường ống hoặc vận chuyển để bơm trực tiếp vào các ô đê bao, bãi bồi ngoài cửa sông.

Giải pháp này vừa giúp giảm chi phí mua vật liệu san lấp, vừa tạo chân đê chắc chắn, thúc đẩy quá trình gây bồi, tạo bãi để trồng và phục hồi rừng ngập mặn phòng hộ.

Cùng cách nhìn đó, Thạc sĩ Nguyễn Tiến Sơn, Phó Chi cục trưởng Chi cục Địa chất và Khoáng sản miền Nam, thuộc Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam cho rằng, việc mở rộng mô hình xã hội hóa hoạt động nạo vét kết hợp thu hồi vật liệu là hướng đi tất yếu.

Tuy nhiên, để doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, Cà Mau cần sớm hoàn thiện chính sách, quy trình cấp phép đơn giản hóa và cơ chế định giá vật liệu nạo vét phù hợp quy định pháp luật.

“Khi cơ chế thông thoáng, nguồn vật liệu này sẽ giải quyết triệt để tình trạng thiếu cát san lấp cho các công trình hạ tầng, đồng thời tạo bức tường xanh vững chắc để chắn sóng, chắn gió bảo vệ xóm làng ven biển”, ông Sơn chia sẻ.

Đưa nước ngọt về, chuyển từ ứng phó sang chủ động

Không chỉ bài toán sạt lở, nguy cơ xâm nhập mặn và thiếu hụt nước ngọt phục vụ sinh hoạt, sản xuất tại Cà Mau cũng đang ở mức báo động. Nằm ở cuối nguồn sông Cửu Long, Cà Mau không có nguồn nước ngọt tự nhiên từ sông lớn đổ về mà phụ thuộc hoàn toàn vào nước mưa và nước ngầm.

Việc khai thác nước ngầm quá mức làm gia tăng sụt lún đất, trong khi mùa khô kéo dài khiến vùng ngọt hóa U Minh và vùng ven biển luôn rơi vào tình trạng “khát” trầm trọng trong những tháng cao điểm mùa khô.

Để giải quyết tận gốc vấn đề này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tô Văn Thanh, Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đề xuất giải pháp chuyển nước ngọt từ sông Hậu về Cà Mau. Theo vị chuyên gia, việc nghiên cứu tuyến chuyển nước liên tỉnh hoặc xây dựng kênh trục dẫn nước từ hệ thống thủy lợi Cái Lớn-Cái Bé, kết hợp với các đập ngăn mặn và hồ chứa điều tiết nội vùng là giải pháp căn cơ nhất.

Điều này giúp chủ động nguồn nước tưới cho mô hình sản xuất lúa-tôm, cấp nước sinh hoạt cho người dân vùng bán đảo Cà Mau và bảo vệ hệ sinh thái rừng tràm U Minh Hạ.

Tiếp cận dưới góc độ lộ trình thực thi, vị chuyên gia khuyến nghị Cà Mau cần xây dựng lộ trình quản lý tổng hợp tài nguyên nước theo từng giai đoạn ngắn, trung và dài hạn. Đồng thời, không thể tách rời việc phát triển kinh tế với an ninh nguồn nước.

“Tỉnh cần chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng thích ứng thuận thiên, kết hợp ứng dụng công nghệ tiết kiệm nước và xây dựng các công trình trữ nước quy mô nhỏ hộ gia đình trước khi các dự án chuyển nước lớn hoàn thành”, ông Thanh lưu ý.

Theo Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau Lê Văn Sử, tỉnh đang đứng trước những thách thức chưa từng có do tác động kép của biến đổi khí hậu, nước biển dâng và các hoạt động phát triển ở thượng nguồn. Do đó, việc tìm kiếm các giải pháp khoa học-công nghệ vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược dài hạn là nhiệm vụ sống còn.

Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị đặt ra yêu cầu phải chuyển từ tư duy ứng phó sang tư duy chủ động quản trị rủi ro, dựa trên dữ liệu, khoa học và dự báo. Phải chuyển từ bảo vệ đơn thuần sang kiến tạo không gian phát triển, biến thách thức thành cơ hội. Phải chuyển từ đầu tư công đơn thuần sang huy động tổng hợp nguồn lực xã hội, thúc đẩy hợp tác công-tư và sự tham gia của doanh nghiệp.

Trên tinh thần đó, lãnh đạo Ủy ban nhân dân tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các viện, trường, cơ quan chuyên môn khẩn trương tổng hợp các ý kiến đóng góp của các chuyên gia, nhà khoa học. Trên cơ sở đó xây dựng đề án, kế hoạch hành động cụ thể để tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh trình cấp có thẩm quyền phê duyệt.

“Chúng ta không thể tiếp tục ứng phó thiên tai theo cách thụ động, ngắn hạn. Đã đến lúc phải thay đổi tư duy quản lý, coi bùn cát nạo vét là tài nguyên quý để gây bồi, tạo bãi, phục hồi dải rừng phòng hộ; coi việc điều hòa, chuyển nước ngọt là giải pháp chiến lược bảo đảm an sinh và phát triển kinh tế. Mọi giải pháp kỹ thuật đưa ra sẽ được dựa trên cơ sở khoa học thực tiễn, có tính khả thi cao và bảo đảm hài hòa sinh thái”, đồng chí Lê Văn Sử chia sẻ.

Bài và ảnh: HỮU TÙNG

Trước nguy cơ ô nhiễm môi trường và lãng phí nguồn lực từ hoạt động nạo vét, tỉnh Cà Mau đang chủ động chuyển từ ứng phó thụ động sang kiểm soát rủi ro theo Kết luận số 26-KL/TW của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 166/NQ-CP của Chính phủ. Nhằm giải quyết bài toán thiếu nơi đổ thải bùn cát, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trần Thanh Tùng từ Trường đại học Thủy lợi đề xuất coi lượng vật liệu nạo vét là tài nguyên để bơm trực tiếp vào ô đê bao hoặc bãi bồi ven biển. Phương án này vừa thúc đẩy quá trình gây bồi, tạo bãi phục hồi dải rừng ngập mặn phòng hộ, vừa giảm thiểu chi phí san lấp và gia cố đê biển. Đồng quan điểm về giải pháp bền vững, Thạc sĩ Nguyễn Tiến Sơn thuộc Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam nhấn mạnh tầm quan trọng của việc mở rộng xã hội hóa nạo vét kết hợp thu hồi vật liệu. Để thu hút doanh nghiệp đầu tư, chính quyền địa phương cần sớm hoàn thiện quy trình cấp phép đơn giản hóa và ban hành cơ chế định giá vật liệu phù hợp. Khi hành lang pháp lý được thông thoáng, nguồn vật liệu này sẽ cung cấp cho các dự án hạ tầng, tạo nên bức tường xanh chắn sóng bảo vệ khu dân cư ven biển. Bên cạnh nguy cơ sạt lở, tình trạng thiếu hụt nước ngọt và sụt lún địa chất do khai thác nước ngầm quá mức đang đặt vùng ngọt hóa U Minh cùng các khu vực ven biển vào thế báo động. Do không có nguồn nước tự nhiên từ sông lớn đổ về, Cà Mau hoàn toàn phụ thuộc vào nước mưa và nguồn tài nguyên dưới lòng đất. Để xử lý triệt để thách thức này, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Tô Văn Thanh từ Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam đã đề xuất phương án chuyển nước ngọt trực tiếp từ sông Hậu về Cà Mau.