Bỏ qua điều hướng
•

Tính chất phức tạp của vấn đề Biển Đông đòi hỏi kết hợp nhiều cơ chế

Tính chất phức tạp của vấn đề Biển Đông đòi hỏi kết hợp nhiều cơ chế
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Các chuyên gia cho rằng tính chất phức tạp của những vấn đề tại Biển Đông đòi hỏi sự kết hợp của nhiều cơ chế và hình thức hợp tác khác nhau và không một cơ chế đơn lẻ nào đủ sức xử lý mọi tranh chấp. ASEAN bàn về Trung Đông, Biển Đông và Myanmar 10 năm sau Phán quyết Trọng tài Biển Đông: Luật pháp ...

Ngày 7/10, Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 18 diễn ra tại Hà Nội với chủ đề “Cạnh tranh, kết nối và hợp tác: Biển Đông và trật tự hàng hải khu vực”.

Sự kiện quy tụ gần 50 diễn giả là chuyên gia Việt Nam và quốc tế; gần 300 đại biểu từ các cơ quan trung ương, địa phương, hơn 40 quốc gia, vùng lãnh thổ và tổ chức quốc tế, trong đó có 25 đại sứ, trưởng cơ quan đại diện tại Việt Nam, tham dự trực tiếp và khoảng 100 đại biểu đăng ký tham dự trực tuyến.

screen-shot-2026-10-07-at-203300.png
Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Hoàng Vân phát biểu tại Hội thảo Biển Đông.
(Ảnh: Baoquocte)

Tại hội thảo, các chuyên gia trong nước và quốc tế trao đổi về những chuyển dịch trong môi trường chiến lược khu vực, về mối liên hệ giữa an ninh biển và an ninh năng lượng, thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Các ý kiến cho thấy cạnh tranh tại Biển Đông mang tính lâu dài, gắn với các chuyển động của trật tự quốc tế. Cạnh tranh tại Biển Đông không chỉ phụ thuộc vào quy mô sức mạnh quân sự, mà còn vào khả năng duy trì hiện diện, giám sát, thực thi pháp luật và tổ chức các mạng lưới hợp tác.

Vị trí địa lý, cơ sở hạ tầng, các tiền đồn và năng lực hậu cần có thể tạo lợi thế chiến lược lâu dài. Điều chỉnh chính sách và quan hệ giữa các nước lớn tiếp tục tác động tới cán cân khu vực, đồng thời đặt ra những lựa chọn ngày càng phức tạp đối với các quốc gia trong lĩnh vực công nghệ và phát triển hạ tầng số.

Trong khi đó, các quốc gia ven biển tăng cường năng lực và mở rộng quan hệ đối tác. Nhiều ý kiến cho rằng tính chất phức tạp của các vấn đề tại Biển Đông đòi hỏi sự kết hợp của nhiều cơ chế và hình thức hợp tác khác nhau và không một cơ chế đơn lẻ nào đủ sức xử lý mọi tranh chấp.

Các chuyên gia lưu ý, những hoạt động “vùng xám” và va chạm dưới ngưỡng xung đột tiếp tục thách thức trực tiếp việc duy trì hòa bình, ổn định khu vực; đồng thời nhấn mạnh tới nhu cầu tăng cường liên lạc, xây dựng quy tắc ứng xử và ngăn sự cố leo thang ví dụ như Bộ quy tắc về tránh va chạm bất ngờ trên biển (CUES) cho lực lượng cảnh sát biển.

screen-shot-2026-10-07-at-203308.png
Các chuyên gia trong nước và quốc tế dự Hội thảo. Ảnh: Baoquocte

An ninh Biển Đông gắn với nhiều tuyến hàng hải

Các trao đổi cho thấy ổn định tại Biển Đông cần được nhìn nhận trong một không gian bao trùm, kết nối rộng hơn, liên thông với nhiều tuyến hàng hải như eo biển Hormuz, Malacca.

Gián đoạn tại một tuyến hàng hải chiến lược có thể tạo ra tác động lan toả tới nhiều khu vực và nền kinh tế; làm thay đổi hành trình vận tải, gia tăng chi phí bảo hiểm, gây sức ép lên nguồn cung và giá cả năng lượng. Tác động còn có thể lan sang phân bón, lương thực, sản xuất và vận tải, cho thấy an ninh hàng hải là vấn đề trực tiếp liên quan đến ổn định kinh tế và đời sống người dân.

Hạ tầng chiến lược dưới biển như các tuyến cáp ngầm ngày càng đóng vai trò quan trọng trong kết nối số. Một sự cố dưới đáy biển có thể trở thành khủng hoảng kết nối ở quy mô quốc gia.

Minh bạch, nhận thức không gian biển (MDA) và công nghệ mới ngày càng có vai trò trong giám sát, thực thi pháp luật và quản lý khủng hoảng. Các hệ thống không người lái giúp hỗ trợ tìm kiếm cứu nạn, giám sát và mở rộng phạm vi hoạt động của lực lượng thực thi pháp luật.

Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất là sự khác biệt về chính sách, “độ mở” trong chia sẻ thông tin, chi phí và lòng tin giữa các bên.

Do đó, có chuyên gia đề xuất cần chuẩn bị năng lực ứng phó trước khi có tình huống khủng hoảng xảy ra; đa dạng hoá nguồn cung, tuyến vận chuyển, củng cố dự trữ và nâng cao năng lực hạ tầng; xây dựng quy tắc sử dụng công nghệ và cơ chế chia sẻ thông tin phù hợp; tăng cường đảm bảo an toàn và sức chống chịu của hệ thống hạ tầng cáp ngầm.

Đa số ý kiến nhấn mạnh tầm quan trọng của luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS), trong duy trì các tuyến hàng hải an toàn, bền vững, thông suốt.

Các chuyên gia ủng hộ ASEAN tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong đối thoại, xây dựng chuẩn mực và thúc đẩy tiến trình đàm phán COC; cùng với các cơ chế hợp tác song phương, đa phương, tiểu đa phương, liên khu vực.

Hội thảo khoa học quốc tế về Biển Đông lần thứ 18 vừa diễn ra ngày 7/10 tại Hà Nội với sự tham gia của gần 50 diễn giả cùng khoảng 400 đại biểu trực tiếp và trực tuyến đến từ hơn 40 quốc gia, vùng lãnh thổ. Sự kiện tập trung phân tích môi trường chiến lược khu vực, nơi cạnh tranh địa chính trị gắn liền với an ninh năng lượng, thương mại và chuỗi cung ứng toàn cầu. Phát biểu tại phiên khai mạc, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thị Hoàng Vân cùng các đại biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì trật tự pháp lý trên biển. Các chuyên gia nhận định tính chất phức tạp của tình hình Biển Đông đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa nhiều cơ chế hợp tác đa phương thay vì trông cậy vào một giải pháp đơn lẻ. Trong bối cảnh các hoạt động vùng xám và va chạm dưới ngưỡng xung đột gia tăng, việc hoàn thiện quy tắc ứng xử như áp dụng Bộ quy tắc tránh va chạm bất ngờ trên biển (CUES) cho lực lượng cảnh sát biển trở nên vô cùng cấp thiết. Bên cạnh sức mạnh quân sự, năng lực kiểm soát không gian biển, hậu cần và mạng lưới đối tác chiến lược đóng vai trò quyết định tới cán cân ổn định lâu dài. An ninh Biển Đông hiện gắn liền trực tiếp với các tuyến hàng hải huyết mạch toàn cầu như eo biển Malacca và Hormuz, khiến mọi gián đoạn vận tải đều có thể tạo ra rủi ro dây chuyền tới giá năng lượng và chuỗi cung ứng lương thực. Bên cạnh đó, hệ thống hạ tầng trọng yếu dưới đáy biển như các tuyến cáp ngầm thông tin cũng đối mặt nguy cơ lớn, đòi hỏi các quốc gia nâng cao năng lực nhận thức không gian biển (MDA) và ứng dụng công nghệ mới. Việc củng cố minh bạch và thiết lập các kênh quản lý khủng hoảng hiệu quả được xem là chìa khóa bảo vệ lợi ích kinh tế cũng như an ninh hàng hải khu vực.
amung