Bỏ qua điều hướng
•

Tọa đàm “Thế hệ người Việt trẻ nói không với thuốc lá”

Tọa đàm “Thế hệ người Việt trẻ nói không với thuốc lá”
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Sáng 27/10, tại trụ sở Báo Nhân Dân (71 Hàng Trống, Hoàn Kiếm, Hà Nội) diễn ra Tọa đàm “Thế hệ người Việt trẻ nói không với thuốc lá ”. Sự kiện được tường thuật trực tiếp trên Nhân Dân điện tử. Sáng 27/10, tổ chức Tọa đàm “Thế hệ người Việt trẻ nói không với thuốc lá” Không có loại thuốc lá nào là a...

Sau hơn 13 năm triển khai Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong nâng cao nhận thức cộng đồng và xây dựng môi trường không khói thuốc. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các sản phẩm thuốc lá mới, cùng những hình thức quảng bá, tiếp thị ngày càng đa dạng đang đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo vệ sức khỏe nhân dân, đặc biệt là trẻ em và thanh thiếu niên.

Thực tiễn đó đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật, tăng cường những biện pháp phòng ngừa và kiểm soát hiệu quả hơn nguy cơ tiếp cận, sử dụng thuốc lá trong giới trẻ.

Với mong muốn tạo diễn đàn trao đổi giữa các cơ quan quản lý, chuyên gia và các tổ chức xã hội, hôm nay, Báo Nhân Dân tổ chức tọa đàm “Thế hệ người Việt trẻ nói không với thuốc lá”. Chương trình tập trung làm rõ cơ sở khoa học, thực tiễn và pháp lý của các chính sách đang được đề xuất, đồng thời thảo luận những giải pháp để các quy định thực sự đi vào cuộc sống.

Các khách mời tham dự tọa đàm gồm: Ông Nguyễn Hồng Ngọc, Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa-Xã hội, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội; Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Thanh Hương, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Y tế công cộng; Ông Đặng Hoa Nam, Phó Chủ tịch Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam; Tiến sĩ Angela Pratt, Trưởng Đại diện Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam; Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền, Giám đốc quốc gia, Tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids tại Việt Nam.

1wupuksnkc4lvlhpbhq0hboapaypjhs8jxhamsntif8fqmrhmratbz24gkuu8cigv1y-3436.jpg
Tọa đàm “Thế hệ người Việt trẻ nói không với thuốc lá”
Nhấn Cập nhật để xem nội dung mới nhất 27/10/2026 11:55 Cần thanh tra, xử lý chặt chẽ các hoạt động mua bán, quảng cáo thuốc lá trên không gian mạng
ndo_br_ba-huyen.jpg
Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền phát biểu. (Ảnh: MINH DUY)

Bàn về kinh nghiệm quốc tế trong việc đưa những giải pháp chính sách để kiểm soát hiệu quả các hình thức tiếp thị thuốc lá, Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền, Giám đốc quốc gia Tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids tại Việt Nam cho biết, từ câu chuyện của các quốc gia trong khối ASEAN như Lào hay Singapore, có thấy rằng khi Việt Nam cấm hoàn toàn sản phẩm này trên thị trường, ngay lập tức sẽ có sự chuyển dịch từ môi trường bán lẻ trực tiếp sang môi trường mua bán trực tuyến, đi kèm với các hoạt động quảng cáo trên mạng.

Do đó, công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các hiện tượng này là vô cùng quan trọng. Chúng ta cần có công cụ quét các nền tảng thương mại, đặc biệt là các nền tảng như Facebook hay YouTube - nơi diễn ra phần lớn các hành vi vi phạm hiện nay.

Kinh nghiệm tại Singapore cho thấy, họ đã kết hợp chặt chẽ với Meta để truy vết và truy quét các hình thức vi phạm. Đặc biệt, cơ quan chức năng tại Singapore còn theo dõi các hoạt động buôn bán thông qua các nền tảng số và kiểm tra mã điện tử của sản phẩm. Nhờ đó, các cơ quan quản lý có đủ công cụ, công nghệ để truy vết vi phạm và có đầy đủ phương tiện pháp lý để tiến hành xử phạt.

Cần xử lý nghiêm không chỉ hành vi buôn bán, khuyến mại, tài trợ mà cả các hành vi lưu giữ, phân phối sản phẩm, bao gồm cả khâu kho bãi và tàng trữ.

Từ thực tiễn này, Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền đưa ra khuyến nghị rằng, với các hành vi vi phạm trên không gian mạng cần được quy định rõ ràng và đồng bộ trong các văn bản quy phạm pháp luật. Song song đó, cần xử lý nghiêm không chỉ hành vi buôn bán, khuyến mại, tài trợ mà cả các hành vi lưu giữ, phân phối sản phẩm, bao gồm cả khâu kho bãi và tàng trữ. Đây là những điểm cốt lõi cần được thúc đẩy hơn nữa để công tác thực thi pháp luật đạt hiệu quả toàn diện khi Việt Nam cấm các sản phẩm này.

27/10/2026 11:50 WHO cảnh báo nguy cơ lệ thuộc nicotine ở người trẻ từ thuốc lá điện tử

Trao đổi về những quan niệm cho rằng thuốc lá điện tử ít gây hại hơn thuốc lá truyền thống, Tiến sĩ Angela Pratt, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam, đặc biệt lưu ý đến nồng độ nicotine cao trong các sản phẩm này và nguy cơ gây nghiện đối với thanh thiếu niên.

ndo_bl_1793076759410-4111377648812403589-4111377648812403589-57265eaeb93859b45641383eedede735.jpg
Đại diện WHO dẫn các bằng chứng từ nhiều quốc gia cho thấy, không ít người trẻ bắt đầu bằng việc sử dụng thuốc lá điện tử, sau đó chuyển sang hút thuốc lá truyền thống. (Ảnh: MINH DUY)

Theo bà Angela Pratt, nicotine có những tác động nghiêm trọng đến sức khỏe, đặc biệt đối với người trẻ có não bộ vẫn đang trong quá trình phát triển.

Với khả năng gây nghiện cao, việc tiếp xúc với nicotine ở lứa tuổi này là vấn đề cần đặc biệt quan tâm.

Đại diện WHO dẫn các bằng chứng từ nhiều quốc gia cho thấy, không ít người trẻ bắt đầu bằng việc sử dụng thuốc lá điện tử, sau đó chuyển sang hút thuốc lá truyền thống. Điều này đặt ra những lo ngại về nguy cơ hình thành và duy trì tình trạng lệ thuộc nicotine ở thanh thiếu niên.

27/10/2026 11:45 TS Nguyễn Huy Quang: Năm khoảng trống pháp lý cần khắc phục để nâng cao hiệu quả phòng, chống tác hại của thuốc lá

Chia sẻ tại tọa đàm, TS Nguyễn Huy Quang, Trưởng ban Tư vấn, phản biện và giám định xã hội, Tổng hội Y học Việt Nam, nguyên Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Y tế cho biết, ông rất tâm đắc với chủ đề tọa đàm “Thế hệ người Việt trẻ nói không với thuốc lá” do Báo Nhân Dân tổ chức. Chủ đề này có ý nghĩa đặc biệt bởi chúng ta không chỉ bàn về việc cấm sản phẩm này hay kiểm soát sản phẩm khác, mà quan trọng hơn là hướng tới bảo vệ một thế hệ sẽ tiếp nối và xây dựng tương lai đất nước.

Các doanh nghiệp thuốc lá luôn đặc biệt quan tâm đến giới trẻ, tìm cách tiếp cận để hình thành những người sử dụng mới. Trong khi đó, tỷ lệ cai thuốc lá thành công còn thấp, chỉ dao động khoảng 5-15%. Một khi đã hình thành thói quen hút thuốc, nhiều người sẽ tiếp tục sử dụng trong thời gian dài. Chính vì vậy, việc ngăn ngừa người trẻ bắt đầu sử dụng thuốc lá có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Từ góc độ pháp luật, TS Nguyễn Huy Quang cho rằng hiện nay có 5 khoảng trống cần được quan tâm khắc phục trong quá trình sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Thứ nhất, cần luật hóa đầy đủ quy định cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng theo Nghị quyết số 173/2024/QH15 của Quốc hội.

Việc luật hóa phải bảo đảm kiểm soát toàn diện các hoạt động liên quan đến những sản phẩm này, từ sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu đến mua bán, vận chuyển và các hình thức lưu thông khác.

Đặc biệt, cần quan tâm đến các sản phẩm chứa nicotine, các thành phần và nguyên liệu có thể được sử dụng trong thuốc lá mới. Đây là những sản phẩm có nguy cơ bị pha trộn với ma túy hoặc các chất khác, vì vậy quy định pháp luật phải đủ chặt chẽ để tránh bị lợi dụng.

Thứ hai, cần bổ sung quy định cấm trưng bày sản phẩm thuốc lá tại điểm bán.

Chúng ta đã có những quy định về cấm quảng cáo thuốc lá dưới nhiều hình thức, nhưng việc trưng bày sản phẩm tại điểm bán vẫn là một vấn đề cần tiếp tục kiểm soát.

TS Nguyễn Huy Quang cho rằng cần đưa nội dung cấm trưng bày thuốc lá tại điểm bán vào Luật để hạn chế khả năng tiếp cận và tác động quảng bá đối với người tiêu dùng, đặc biệt là trẻ em, thanh thiếu niên.

Thứ ba, cần tăng diện tích cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên bao bì thuốc lá và thay đổi hình ảnh định kỳ.

Theo TS Nguyễn Huy Quang, cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh là một hình thức truyền thông trực diện, có hiệu quả cao. Người tiêu dùng không cần nghe đài, đọc báo mà vẫn có thể nhìn thấy ngay những thông điệp về tác hại của thuốc lá trên bao bì sản phẩm.

Biện pháp này có nhiều lợi ích. Trước hết, cảnh báo tác động trực tiếp đến người hút thuốc. Đồng thời, hình ảnh cảnh báo góp phần hạn chế tác dụng quảng bá của bao bì thuốc lá. Những thông điệp được lặp lại thường xuyên cũng giúp cả người hút và người không hút nhận thức rõ hơn về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe.

Đặc biệt, đây là hình thức truyền thông có hiệu quả kinh tế cao bởi cơ quan quản lý xây dựng, cung cấp hình ảnh cảnh báo, còn doanh nghiệp có trách nhiệm in trên bao bì sản phẩm.

Tuy nhiên, điều đáng tiếc là sau 13 năm, Việt Nam vẫn giữ nguyên diện tích cảnh báo sức khỏe ở mức 50% và chưa thay đổi bộ hình ảnh cảnh báo.

Điều đáng tiếc là sau 13 năm, Việt Nam vẫn giữ nguyên diện tích cảnh báo sức khỏe ở mức 50% và chưa thay đổi bộ hình ảnh cảnh báo.

Khi mới triển khai, Việt Nam từng thuộc nhóm quốc gia đi đầu về cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh. Nhưng trong khi nhiều nước đã có những bước tiến đáng kể, chúng ta vẫn giữ nguyên quy định cũ. Theo số liệu TS Nguyễn Huy Quang đề cập, thứ hạng của Việt Nam đã giảm từ vị trí 28 xuống vị trí 95 trong bảng xếp hạng về diện tích cảnh báo sức khỏe. Đây là vấn đề cần sớm được điều chỉnh, thay vì tiếp tục kéo dài tình trạng chậm đổi mới.

Thứ tư, cần mở rộng các địa điểm cấm hút thuốc lá hoàn toàn.

Hiện nay, một số địa điểm và phương tiện vẫn được phép bố trí khu vực dành riêng cho người hút thuốc, như một số phương tiện giao thông, sân bay, khách sạn, cơ sở lưu trú, nhà hàng và các địa điểm dịch vụ khác.

Theo ông Quang, đây là vấn đề cần được xem xét lại. Tổ chức Y tế thế giới đã khẳng định không có mức độ phơi nhiễm khói thuốc thụ động nào được coi là an toàn. Ngay cả khi có khu vực hút thuốc riêng, khói thuốc vẫn có thể ảnh hưởng đến những người xung quanh, đặc biệt là người lao động tại các cơ sở dịch vụ.

Vì vậy, việc mở rộng các địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn là giải pháp quan trọng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

Thứ năm, cần có quy định về phòng, chống sự can thiệp của ngành công nghiệp thuốc lá vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách.

ndo_br_1793075885053-1039334993641183250-g1449245980428005986-a17a5a50e0bc725ecaf533dd257a8581.jpg

Đây là vấn đề TS Nguyễn Huy Quang cho rằng chưa được quan tâm đúng mức.

"Chúng ta đã có những quy định về ngăn chặn hoạt động vận động chính sách không phù hợp. Tuy nhiên, nếu Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá có quy định cụ thể nhằm phòng ngừa sự can thiệp của ngành công nghiệp thuốc lá vào quá trình hoạch định và tổ chức thực thi chính sách thì hiệu quả kiểm soát sẽ cao hơn.

Điều tôi tiếc là trong quá trình sửa đổi Luật lần này, một số vấn đề quan trọng như tăng diện tích cảnh báo sức khỏe, mở rộng địa điểm cấm hút thuốc hoàn toàn và phòng, chống sự can thiệp của ngành công nghiệp thuốc lá chưa được đưa vào đầy đủ", ông Quang nói.

Với kinh nghiệm nhiều năm tham gia công tác xây dựng chính sách, pháp luật, tôi cho rằng nếu Quốc hội nhận thấy đây là những vấn đề thực sự cần thiết thì hoàn toàn có thể đề nghị Chính phủ tiếp tục nghiên cứu, bổ sung vào dự án Luật.

Trước đây, trong quá trình xây dựng pháp luật, có những nội dung Chính phủ chưa trình nhưng khi Quốc hội yêu cầu, cơ quan chủ trì vẫn phải báo cáo cấp có thẩm quyền để nghiên cứu, hoàn thiện.

Tôi kỳ vọng lần sửa đổi này sẽ tạo ra bước tiến mạnh mẽ, giúp Việt Nam tiếp tục nâng cao hiệu quả phòng, chống tác hại của thuốc lá.

"Tôi kỳ vọng lần sửa đổi này sẽ tạo ra bước tiến mạnh mẽ, giúp Việt Nam tiếp tục nâng cao hiệu quả phòng, chống tác hại của thuốc lá. Cuối cùng, tôi muốn nhấn mạnh rằng tất cả những nỗ lực hoàn thiện chính sách đều hướng đến mục tiêu bảo vệ sức khỏe người dân, đặc biệt là trẻ em và thế hệ trẻ, xây dựng môi trường không khói thuốc. Được sống trong môi trường trong lành, an toàn là quyền cơ bản của mỗi người và cũng là điều kiện quan trọng để phát triển bền vững", ông Quang nhấn mạnh.

27/10/2026 11:25 Bảo vệ trẻ em và thanh thiếu niên trước nguy cơ ảnh hưởng của thuốc lá
ndo_br_dang-hoa-nam.jpg
Ông Đặng Hoa Nam, Phó Chủ tịch thường trực Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam. (Ảnh: MINH DUY)

Một trong những mục tiêu quan trọng của việc hoàn thiện chính sách phòng, chống tác hại của thuốc lá là bảo vệ trẻ em và thanh thiếu niên trước những nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển. Đặc biệt, khi trẻ em ngày càng tiếp xúc sớm với các nền tảng số, việc ngăn ngừa các hình thức quảng bá, tiếp thị thuốc lá trên môi trường mạng đang đặt ra nhiều thách thức. Bên cạnh ngăn ngừa nguy cơ trước mắt, các biện pháp bảo vệ cần tạo tác động lâu dài, góp phần thay đổi quan niệm và thói quen về thuốc lá của các thế hệ mới. Bảo vệ trẻ em vì vậy không chỉ là trách nhiệm của ngành y tế mà cần sự phối hợp của gia đình, nhà trường và toàn xã hội.

Bảo vệ trẻ em không chỉ là trách nhiệm của ngành y tế mà cần sự phối hợp của gia đình, nhà trường và toàn xã hội.

Tại tọa đàm, ông Đặng Hoa Nam, Phó Chủ tịch thường trực Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam (VACR) đã trình bày tham luận về vấn đề này với 5 vấn đề trọng tâm:

Phòng, chống tác hại thuốc lá, bảo vệ quyền được sống khỏe mạnh và phát triển toàn diện của trẻ em

Khẳng định trẻ em và thanh thiếu niên là giai đoạn con người có những bước phát triển quan trọng về thể chất, trí tuệ, tâm lý, cảm xúc và các kỹ năng xã hội, ông Đặng Hoa Nam cho rằng, những tác động bất lợi đối với sức khỏe trong giai đoạn này có thể để lại hậu quả không chỉ trước mắt mà còn kéo dài đến tuổi trưởng thành. Theo đó, việc sử dụng thuốc lá, tiếp xúc với khói thuốc và tiếp cận các sản phẩm chứa nicotine đặt ra những nguy cơ đáng quan tâm đối với sự phát triển của thế hệ trẻ. Nicotine có khả năng gây nghiện; việc sử dụng các sản phẩm chứa chất này ở tuổi vị thành niên đặc biệt đáng lo ngại do não bộ vẫn đang trong quá trình phát triển. Bên cạnh đó, các chất độc hại trong khói thuốc và khí dung của một số sản phẩm thuốc lá có thể gây tổn hại đến hệ hô hấp và sức khỏe nói chung.

Ông Nam đặc biệt lưu ý, hình thức sử dụng khác với thuốc lá điếu truyền thống không đồng nghĩa với việc sản phẩm an toàn. Các sản phẩm thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng có thể được thiết kế với nhiều hương vị, kiểu dáng, màu sắc và hình thức quảng bá hấp dẫn, khiến trẻ em, thanh thiếu niên dễ đánh giá thấp nguy cơ sức khỏe và nguy cơ lệ thuộc nicotine.

Nicotine có khả năng gây nghiện; việc sử dụng các sản phẩm chứa chất này ở tuổi vị thành niên đặc biệt đáng lo ngại do não bộ vẫn đang trong quá trình phát triển.

Tác hại của thuốc lá đối với trẻ em cũng không chỉ giới hạn ở những em trực tiếp sử dụng sản phẩm. Trẻ em còn có thể chịu ảnh hưởng từ khói thuốc trong gia đình, trường học, nơi công cộng và những không gian sinh hoạt khác. Bởi vậy, bảo vệ trẻ em trước tác hại của thuốc lá phải bao gồm cả phòng ngừa việc sử dụng thuốc lá ở trẻ em và thanh thiếu niên, cũng như bảo đảm môi trường sống không có khói thuốc.

Từ cách tiếp cận dựa trên quyền trẻ em, ông Nam khuyến nghị, cần nhấn mạnh các quan điểm xuyên suốt trong hoàn thiện pháp luật về phòng, chống tác hại của thuốc lá gồm có:

Một là, trẻ em có quyền được bảo vệ trước những nguy cơ có thể phòng ngừa được đối với sức khỏe. Việc bảo vệ quyền này không thể chỉ dừng lại ở cung cấp thông tin về tác hại của thuốc lá, mà phải bao gồm những biện pháp pháp luật, quản lý thị trường, kiểm soát quảng bá, hạn chế tiếp cận và hỗ trợ phòng ngừa từ sớm, từ xa.

Hai là, trẻ em có quyền được phát triển toàn diện trong một môi trường an toàn. Một môi trường mà các sản phẩm gây nghiện được quảng bá như biểu tượng của sự hiện đại, cá tính hay trưởng thành sẽ tạo ra những ảnh hưởng không có lợi đối với nhận thức, sự lựa chọn và hành vi của trẻ em và các thế hệ trẻ.

Ba là, bảo vệ trẻ em cần được thực hiện theo nguyên tắc phòng ngừa sớm. Nếu chỉ can thiệp khi trẻ đã hình thành thói quen sử dụng thuốc lá hoặc đã chịu những hậu quả về sức khỏe, chúng ta sẽ phải đối mặt với chi phí can thiệp lớn hơn và những khó khăn lâu dài hơn.

Ông Nam cho rằng, hoàn thiện Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá là chuyển mạnh hơn từ tư duy xử lý hậu quả sang chủ động ngăn ngừa nguy cơ; từ việc chỉ kiểm soát sản phẩm sang bảo vệ con người, đặc biệt là những đối tượng chưa có đầy đủ khả năng nhận diện và tự bảo vệ trước các tác động thương mại.

“Đây cũng là cách tiếp cận phù hợp với tinh thần của Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em, nhất là các quy định về lợi ích tốt nhất của trẻ em, quyền được sống, tồn tại và phát triển, quyền được bảo vệ sức khỏe và trách nhiệm của Nhà nước trong việc bảo vệ trẻ em trước những nguy cơ có hại”, ông Nam nói.

Kiểm soát quảng bá, tiếp thị thuốc là trên môi trường mạng - yêu cầu cấp thiết của công tác bảo vệ trẻ em

Theo ông Nam, một trong những thay đổi đáng chú ý của môi trường truyền thông hiện nay là trẻ em và thanh thiếu niên tiếp nhận thông tin ngày càng nhiều qua mạng xã hội, nền tảng chia sẻ video, trò chơi trực tuyến, các cộng đồng số và những người có ảnh hưởng trên mạng.

Môi trường số mang lại nhiều cơ hội học tập, kết nối và phát triển, nhưng đồng thời cũng khiến trẻ em phải đối mặt với những hình thức tiếp thị tinh vi, khó nhận diện hơn so với quảng cáo truyền thống.

Nếu trước đây, hình ảnh thuốc lá chủ yếu xuất hiện qua các phương tiện truyền thông đại chúng hoặc tại điểm bán, thì ngày nay, nội dung liên quan đến thuốc lá có thể được lan truyền thông qua video ngắn, hình ảnh, bài đăng cá nhân, livestream, hội nhóm trực tuyến, nội dung giải trí và các hình thức quảng bá trá hình.

Đáng chú ý, việc quảng bá có thể không thể hiện dưới dạng một quảng cáo thương mại rõ ràng. Hình ảnh sử dụng thuốc lá có thể được gắn với phong cách sống hiện đại, sự tự tin, tính độc lập, cá tính riêng hoặc hình ảnh của những người nổi tiếng được giới trẻ yêu thích. Những nội dung như vậy có thể làm giảm cảm nhận về nguy cơ, bình thường hóa hành vi sử dụng thuốc lá và tạo áp lực đồng trang lứa.

Đối với thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng, nguy cơ này càng đáng quan tâm khi hình thức sản phẩm có thể được thiết kế giống những thiết bị công nghệ thông dụng, trong khi thông tin về thành phần, mức độ nguy hại và khả năng gây nghiện không phải lúc nào cũng được người trẻ nhận biết đầy đủ. Do đó, việc hoàn thiện pháp luật cần tính đến đặc điểm của môi trường số, trong đó ranh giới giữa thông tin, giải trí, chia sẻ cá nhân và quảng cáo thương mại đôi khi không rõ ràng.

Từ góc độ bảo vệ quyền trẻ em, ông Nam kiến nghị, cần quan tâm một số giải pháp sau:

Một là, quy định rõ và bao quát các hành vi quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại, trưng bày và bán thuốc lá trên môi trường điện tử theo phạm vi và yêu cầu của pháp luật. Cần tránh để những hình thức tiếp thị mới, nội dung quảng bá trá hình hoặc hoạt động kinh doanh thông qua tài khoản cá nhân trở thành khoảng trống trong xây dựng và thực thi pháp luật.

Hai là, tăng cường trách nhiệm của các nền tảng số và các chủ thể tham gia hoạt động truyền thông. Việc phát hiện, tiếp nhận phản ánh, ngăn chặn và xử lý nội dung vi phạm cần được thực hiện kịp thời, minh bạch và phù hợp với quy định pháp luật. Các nền tảng cần có cơ chế phối hợp hiệu quả với cơ quan chức năng, đồng thời chú trọng các biện pháp bảo vệ người dùng chưa thành niên.

Ba là, tăng cường giám sát hoạt động kinh doanh thuốc lá trên mạng. Các hình thức rao bán, giao dịch qua hội nhóm kín, tài khoản ẩn danh, dịch vụ chuyển phát hoặc các phương thức thanh toán trực tuyến cần được xem xét trong tổng thể các biện pháp quản lý và thực thi pháp luật.

Bốn là, phát triển năng lực nhận diện thông tin của trẻ em và thanh thiếu niên. Trẻ cần được trang bị khả năng phân biệt giữa thông tin khoa học, quảng cáo thương mại, nội dung tài trợ và những thông điệp có mục đích tác động đến hành vi. Đây là một nội dung quan trọng của giáo dục kỹ năng số và giáo dục truyền thông.

Dịp này, ông Nam cũng lưu ý phương pháp tiếp cận dựa trên quyền trẻ em, hết sức tránh việc đặt toàn bộ trách nhiệm lên vai trẻ em bằng cách yêu cầu các em tự nhận diện và tránh xa mọi nội dung nguy hại. Trẻ em cần được bảo vệ bằng những quy định pháp luật hiệu quả, cơ chế giám sát phù hợp và trách nhiệm rõ ràng của các tổ chức, doanh nghiệp có liên quan.

Ứng phó với nguy cơ trước mắt và tác hại lâu dài, từng bước thay đổi hành vi sử dụng thuốc lá của giới trẻ.

Thắng thắn chỉ ra, trong công tác phòng, chống tác hại thuốc lá, một thách thức lớn hiện nay là làm thế nào để chuyển từ nhận thức sang hành vi, từ việc biết thuốc lá có hại sang chủ động không sử dụng thuốc lá và không chấp nhận những hành vi gây ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng, ông Nam khẳng định, đối với trẻ em và thanh thiếu niên, quá trình hình thành hành vi chịu tác động của nhiều yếu tố: tâm lý lứa tuổi, nhu cầu khẳng định bản thân, sự tò mò, ảnh hưởng của bạn bè, môi trường gia đình, hình ảnh trên mạng xã hội và mức độ sẵn có của sản phẩm.

Trong nhiều trường hợp, trẻ có thể bắt đầu sử dụng một sản phẩm không phải vì đã cân nhắc đầy đủ nguy cơ sức khỏe, mà vì muốn thử nghiệm, muốn hòa nhập với nhóm bạn hoặc cho rằng sản phẩm đó thời thượng, ít độc hại hơn thuốc lá truyền thống.

Nếu công tác truyền thông chỉ tập trung vào những thông điệp chung chung như “thuốc lá có hại cho sức khỏe”, chúng ta có thể chưa đủ sức thuyết phục đối với những người trẻ đang chịu ảnh hưởng trực tiếp từ bạn bè và môi trường số.

Do đó, ông Nam đề xuất, cần triển khai đồng thời ba nhóm giải pháp.

Thứ nhất, trước mắt tập trung ngăn ngừa việc tiếp cận, sử dụng và lan truyền hành vi sử dụng thuốc lá trong giới trẻ.

Thứ hai, về lâu dài, xây dựng chuẩn mực xã hội tích cực và thay đổi nhận thức về thuốc lá.

Quan điểm cần được nhấn mạnh là: phòng, chống tác hại thuốc lá không nên chỉ được nhìn nhận như một cuộc vận động nhằm ngăn cấm hành vi mà cần là quá trình xây dựng môi trường hỗ trợ để trẻ có thể lựa chọn và duy trì lối sống lành mạnh.

Thứ ba, chuyển từ truyền thông đơn thuần sang hỗ trợ và can thiệp phù hợp, cách tiếp cận dựa trên quyền trẻ em đòi hỏi phải nhìn nhận trẻ vừa là đối tượng cần được bảo vệ, vừa là người có khả năng học hỏi, thay đổi và chịu trách nhiệm phù hợp với độ tuổi của mình.

“Quan điểm cần được nhấn mạnh là: phòng, chống tác hại thuốc lá không nên chỉ được nhìn nhận như một cuộc vận động nhằm ngăn cấm hành vi mà cần là quá trình xây dựng môi trường hỗ trợ để trẻ có thể lựa chọn và duy trì lối sống lành mạnh”, ông Nam nhận định.

Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức xã hội, nhà trường, gia đình và cộng đồng.

Nhấn mạnh, trong công tác bảo vệ trẻ em trước tác hại của thuốc lá, không một cơ quan hay tổ chức đơn lẻ nào có thể giải quyết đầy đủ các vấn đề đặt ra mà cần xây dựng một cơ chế phối hợp có mục tiêu rõ ràng, xác định trách nhiệm cụ thể và có khả năng chuyển hóa quy định pháp luật thành hành động thực tế.

Thứ nhất, đối với các cơ quan quản lý nhà nước. Các cơ quan có thẩm quyền cần tiếp tục hoàn thiện chính sách, bảo đảm tính thống nhất giữa pháp luật về phòng, chống tác hại thuốc lá với pháp luật về trẻ em, y tế, giáo dục, quảng cáo, thương mại điện tử và an toàn trên môi trường mạng. Cần phân định rõ trách nhiệm trong quản lý sản phẩm, kiểm tra hoạt động kinh doanh, xử lý hành vi vi phạm, cung cấp thông tin khoa học và tổ chức truyền thông. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế thu thập, chia sẻ thông tin và đánh giá hiệu quả thực thi, đặc biệt đối với những hành vi vi phạm có liên quan trực tiếp đến trẻ em và thanh thiếu niên.

Thứ hai, đối với nhà trường, một trong những môi trường quan trọng nhất để hình thành nhận thức, thái độ và hành vi của trẻ.

Giáo dục phòng, chống tác hại thuốc lá cần được tích hợp phù hợp vào các hoạt động giáo dục sức khỏe, kỹ năng sống, kỹ năng số và giáo dục công dân. Nội dung không nên chỉ dừng ở việc phổ biến quy định cấm, mà cần giúp học sinh hiểu nguy cơ, biết cách từ chối, biết tìm kiếm sự hỗ trợ và có trách nhiệm với sức khỏe của bản thân.

Quan trọng hơn, cần tránh biến hoạt động phòng, chống thuốc lá thành việc xử phạt đơn thuần, khiến học sinh che giấu hành vi thay vì chủ động tìm kiếm sự giúp đỡ.

Thứ ba, đối với gia đình, nơi trẻ hình thành những nhận thức và thói quen đầu tiên về sức khỏe, lối sống và cách ứng xử, cha mẹ phải nêu gương trong việc không sử dụng thuốc lá trong môi trường sinh hoạt của trẻ, chủ động trao đổi với con về nguy cơ của thuốc lá và các sản phẩm chứa nicotine, đồng thời quan tâm đến những nội dung mà trẻ tiếp nhận trên mạng.

Sự đồng hành của gia đình có ý nghĩa đặc biệt trong việc giúp trẻ vượt qua áp lực bạn bè và thay đổi hành vi.

Thứ tư, đối với các tổ chức xã hội và tổ chức bảo vệ quyền trẻ em - nơi có vai trò kết nối cộng đồng, phản ánh tiếng nói của người dân và trẻ em, thúc đẩy thực thi pháp luật, giám sát chính sách và hỗ trợ truyền thông đến những nhóm đối tượng khác nhau.

ndo_br_quang-canh-7588.jpg
Quang cảnh tọa đàm. (Ảnh: MINH DUY)

Từ góc độ của các tổ chức bảo vệ quyền trẻ em, tôi cho rằng cần quan tâm đến ít nhất ba nhiệm vụ.

Một là, tham gia góp ý xây dựng và hoàn thiện chính sách trên cơ sở quyền trẻ em, bằng chứng khoa học và thực tiễn triển khai tại cộng đồng.

Hai là, tăng cường truyền thông, vận động xã hội và cung cấp thông tin dễ tiếp cận cho cha mẹ, giáo viên, cán bộ làm công tác trẻ em và chính bản thân trẻ em.

Ba là, tiếp nhận ý kiến, kiến nghị của trẻ em; ghi nhận những khó khăn trong việc thực thi chính sách; phản ánh các nguy cơ mới phát sinh trên môi trường mạng và kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý.

Đặc biệt, tiếng nói của trẻ em, thanh niên cần được lắng nghe trong quá trình xây dựng thông điệp, lựa chọn hình thức truyền thông và đánh giá hiệu quả của các chương trình phòng, chống tác hại thuốc lá.

Thứ năm, đối với báo chí, truyền thông và các nền tảng số, cần tăng cường những nội dung có căn cứ, dễ hiểu, gần gũi với đời sống của người trẻ; kịp thời nhận diện và phản bác thông tin sai lệch về thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và các sản phẩm liên quan.

Cần tránh vô tình khuếch đại hình ảnh hoặc thông điệp có thể khiến sản phẩm thuốc lá trở nên hấp dẫn hơn đối với trẻ em và thanh thiếu niên. Việc đưa tin về các trường hợp vi phạm cũng cần bảo đảm tính chính xác, tôn trọng quyền riêng tư và lợi ích tốt nhất của trẻ em.

Đối với nền tảng số, cần nâng cao trách nhiệm trong việc phát hiện và xử lý nội dung vi phạm, hạn chế quảng bá trái phép và hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền thực thi pháp luật theo đúng quy định.

Một số kiến nghị đối với dự thảo Luật và công tác truyền thông

Ông Nam đề xuất 5 vấn đề, đó là:

Một là, tiếp tục hoàn thiện các quy định pháp luật theo hướng lấy việc bảo vệ sức khỏe và quyền trẻ em làm một trong những mục tiêu trọng tâm.

Hai là, tăng cường các quy định và biện pháp thực thi nhằm ngăn chặn quảng bá, tiếp thị và kinh doanh thuốc lá trái pháp luật trên môi trường số.

Ba, xây dựng chương trình truyền thông quốc gia hoặc các chương trình phối hợp liên ngành có trọng tâm, dành riêng cho trẻ em và thanh thiếu niên.

Bốn là, thúc đẩy sự tham gia thực chất của trẻ em và thanh thiếu niên trong công tác truyền thông.

Năm là, tăng cường cơ chế phối hợp, giám sát và đánh giá hiệu quả thực thi chính sách pháp luật.

Sáu là, bảo đảm nguồn lực và năng lực thực hiện ở cấp cơ sở.

27/10/2026 11:18 Cần làm rõ khi luật hóa khái niệm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng
ndo_br_nghong-ngoc.jpg
Ông Nguyễn Hồng Ngọc, Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa và xã hội, Ủy ban Văn hóa và xã hội của Quốc hội phát biểu. (Ảnh: MINH DUY)

Trình bày tham luận “Khái niệm về thuốc lá mới tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá và kiến nghị về cảnh báo sức khỏe”, ông Nguyễn Hồng Ngọc, Phó Vụ trưởng Vụ Văn hóa và xã hội, Ủy ban Văn hóa và xã hội của Quốc hội cho biết, Dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của dự án Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá (dự án Luật) do Chính phủ trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI tập trung chính vào các quy định để thực hiện giải pháp giảm nguồn cung ứng và giảm nhu cầu sử dụng thuốc lá. Cụ thể:

Một là quy định 12 hành vi bị nghiêm cấm, trong đó nổi bật là: Nghiêm cấm toàn diện đối với thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, bao gồm sản xuất, kinh doanh, mua bán, tàng trữ, vận chuyển, xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, kinh doanh tạm nhập, tái xuất, kinh doanh chuyển khẩu, chứa chấp; nghiêm cấm trưng bày thuốc lá, trừ trường hợp do Chính phủ quy định; bán thuốc lá trên môi trường điện tử bao gồm bán thuốc lá trên nền tảng thương mại điện tử hoặc phương thức giao dịch điện tử khác; hút, bán thuốc lá tại địa điểm có quy định cấm; sử dụng hình ảnh thuốc lá trên báo chí, xuất bản phẩm dành riêng cho người chưa đủ 18 tuổi, trừ trường hợp tuyên truyền, phổ biến, thông tin, giáo dục, truyền thông về phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Hai là thực hiện nghiêm cấm toàn diện đối với thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, trưng bày thuốc lá, tiếp thị trực tiếp tới người tiêu dùng. Với quy định này thì dự thảo Luật đã sửa đổi các khái niệm “thuốc lá”, “nguyên liệu thuốc lá”, bổ sung các khái niệm “thuốc lá điện tử”, “thuốc lá nung nóng”, “trưng bày thuốc lá”, “tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng”.

“Việc luật hóa các khái niệm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, trưng bày thuốc lá, tiếp thị thuốc lá trực tiếp tới người tiêu dùng, đặc biệt là khái niệm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng nhằm xác định rõ phạm vi điều chỉnh của dự thảo Luật, bảo đảm thống nhất với quy định cấm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng tại Nghị quyết số 173/2024/QH15 của Quốc hội khóa XV, Luật Đầu tư số 143/2025/QH15 quy định cấm kinh doanh thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng và áp dụng thống nhất trong thực tiễn”, ông Ngọc cho hay.

Về những vấn đề cần làm rõ khi Luật hóa khái niệm thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, ông Ngọc cho biết, thuốc lá điện tử được quy định tại dự thảo Luật là “Sản phẩm hoàn chỉnh bao gồm: Thiết bị điện tử để hóa hơi nguyên liệu thuốc lá dung dịch; Bộ phận chứa nguyên liệu thuốc lá; Nguyên liệu thuốc lá dạng dung dịch”.

Còn thuốc lá nung nóng được quy định tại dự thảo Luật là “Sản phẩm hoàn chỉnh bao gồm: Thiết bị điện tử để làm nóng nguyên liệu thuốc lá; Nguyên liệu thuốc lá dạng rắn hoặc nguyên liệu thuốc lá dạng dung dịch và dạng rắn”.

Như vậy, khái niệm thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng quy định tại dự thảo Luật liên quan chặt chẽ đến khái niệm nguyên liệu thuốc lá. Nguyên liệu thuốc lá được quy định tại dự thảo Luật là: “Thành phần của thuốc lá thuộc một trong các trường hợp sau: a) Lá thuốc lá dạng rời, tấm đã sơ chế tách cọng, sợi thuốc lá, cọng thuốc lá; b) Chất có chứa nicotine; c) Chất khác do Chính phủ căn cứ tình hình thực tế để quy định”.

Theo ông Ngọc, quy định khái niệm nguyên liệu thuốc lá tại dự thảo Luật cơ bản đã bao quát nguyên liệu thuốc lá dùng cho thuốc lá truyền thống, thuốc lá nung nóng và thuốc lá điện tử. Tuy nhiên, việc khái niệm nguyên liệu thuốc lá chưa bao gồm “chất không chứa nicotine” sẽ dẫn đến khoảng trống trong thực hiện quy định cấm khi Luật có hiệu lực thi hành đối với nguyên liệu không chứa nicotine dùng cho thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng.

Mặc dù tại khái niệm nguyên liệu thuốc lá, dự thảo Luật đã quy định: Chất khác do Chính phủ căn cứ tình hình thực tế để quy định, tuy nhiên chỉ khi thực tiễn phát sinh Chính phủ mới ban hành quy định sẽ không bảo đảm yêu cầu chủ động phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Mặc dù tại khái niệm nguyên liệu thuốc lá, dự thảo Luật đã quy định: Chất khác do Chính phủ căn cứ tình hình thực tế để quy định, tuy nhiên chỉ khi thực tiễn phát sinh Chính phủ mới ban hành quy định sẽ không bảo đảm yêu cầu chủ động phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Do đó, để bảo đảm tính bao quát, kịp thời, chủ động trong tổ chức thực hiện các quy định ngay khi Luật có hiệu lực, đồng thời phân biệt rõ hơn với các chất không chứa nicotine dùng cho mục đích khác, Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Văn hóa và xã hội của Quốc hội đề nghị Chính phủ nghiên cứu, bổ sung “chất không chứa nicotine được sử dụng chuyên dùng cho các sản phẩm thuốc lá” trong khái niệm nguyên liệu thuốc lá”, ông Ngọc nhấn mạnh.

Liên quan vấn đề in cảnh báo sức khỏe, ông Ngọc cho hay, Điều 15 Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá hiện hành quy định diện tích in cảnh báo sức khỏe trên bao bì phải chiếm ít nhất 50% diện tích của mỗi mặt chính trước và mặc chính sách trên bao, tút, hộp thuốc lá.

Qua hơn 13 năm qua, kể từ ngày 1/5/2013 khi Luật có hiệu lực thi hành cho thấy quy định này đã đóng góp quan trọng trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá. Tuy nhiên nhữn quy định hiện hành so với thực tiễn hiện nay cũng có những hạn chế. Đó là:

Thứ nhất, mức 50% đã trở nên thấp so với khu vực các nước ASEAN: Khi Luật ban hành năm 2012, 50% là mức tiêu chuẩn tương đối tiến bộ. Tuy nhiên, theo khuyến nghị hiện nay của WHO và xu hướng khu vực các nước ASEAN, nhiều quốc gia đã nâng diện tích cảnh báo lên 85% và sử dụng bao bì tiêu chuẩn (bao bì trơn). Mức 50% của Việt Nam hiện thuộc nhóm thấp trong khu vực. Tại khu vực ASEAN, 4/11 quốc gia đã áp dụng chính sách bao bì tiêu chuẩn (bao bì trơn): Thái Lan (từ 10/9/2019), Singapore (từ 1/7/2020), Lào (từ 5/12/2024) và Myanmar (từ 20/10/2025).

Thứ hai, mặc dù Điều 15 Luật hiện hành quy định “Chính phủ quy định cụ thể mức tăng diện tích in cảnh báo sức khỏe phù hợp với từng thời kỳ” nhưng qua hơn 13 năm thi hành tỷ lệ này vẫn giữ nguyên ở mức 50%.

Mức 50% của Việt Nam hiện thuộc nhóm thấp trong khu vực. Tại khu vực ASEAN, 4/11 quốc gia đã áp dụng chính sách bao bì tiêu chuẩn (bao bì trơn): Thái Lan (từ 10/9/2019), Singapore (từ 1/7/2020), Lào (từ 5/12/2024) và Myanmar (từ 20/10/2025).

Thứ ba, hiện tượng "nhờn" hình ảnh: Dù Luật quy định thay đổi mẫu cảnh báo định kỳ 2 năm/lần (Khoản 3 Điều 15), trên thực tế việc cập nhật các bộ ảnh mới còn chậm. Hơn 13 năm qua, người tiêu dùng đã quá quen thuộc với các hình ảnh cũ, làm giảm đáng kể hiệu ứng tác động tâm lý và tính răn đe. Theo kinh nghiệm của các nước việc không thay đổi, làm mới các hình ảnh và thông điệp in cảnh báo sức khỏe trên bao bì các sản phẩm thuốc lá sẽ dần làm mất tác dụng cảnh báo đối với người tiêu dùng, khiến người tiêu dùng dần quen mắt, làm mất đi tính răn đe và hiệu quả tác động tâm lý.

Những hạn chế này đã làm giảm hiệu quả của công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá, trong đó có giảm hiệu quả thông tin, giáo dục, truyền thông về tác hại của thuốc lá; giảm hiệu quả quy định cấm quảng cáo thuốc lá dưới mọi hình thức; tạo khoảng trống tiếp thị cho ngành công nghiệp thuốc lá.

Bên cạnh đó, Dự thảo Luật không đề xuất sửa đổi quy định ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá tại Điều 15 và quy định về diện tích cảnh báo sức khỏe quy định tại khoản 4 Điều 15 của Luật hiện hành. Tuy nhiên, tại Báo cáo thẩm tra số 1208/BC-UBVHXH16 ngày 10/10/2026 của Ủy ban Văn hóa và xã hội đề nghị Chính phủ:

Thứ nhất là bổ sung quy định tại dự thảo Luật theo hướng diện tích in cảnh báo sức khỏe phải chiếm ít nhất 85% diện tích mỗi mặt chính trước và mặt chính sau của bao, tút, hộp thuốc lá hoặc quy định lộ trình cụ thể đạt được mức tăng diện tích cảnh báo sức khỏe từ 85% đến 100% để thể hiện cam kết của Chính phủ, quyết tâm của Nhà nước thể chế hóa quan điểm, nhiệm vụ, giải pháp về bảo vệ sức khỏe nhân dân tại Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 của Bộ Chính trị.

Thứ hai là bổ sung quy định về tiêu chuẩn việc ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe phải bảo đảm gắn liền với bao bì thuốc lá, không bị che lấp bởi tem thuốc lá, tránh trường hợp nhãn cảnh báo chỉ được dán trên bao bì hoặc bị che phần lớn diện tích bởi tem thuốc lá như một số sản phẩm thuốc lá đang lưu hành.

27/10/2026 10:49 WHO cảnh báo khoảng trống pháp lý từ thuốc lá điện tử không chứa nicotine

Tại tọa đàm, Tiến sĩ Angela Pratt, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam nhấn mạnh, các sản phẩm thuốc lá và nicotine mới không an toàn, không có lợi cho sức khỏe.

Những sản phẩm này chứa nicotine, một chất gây nghiện mạnh, cùng nhiều chất độc liên quan đến ung thư, bệnh tim mạch và hô hấp. Đáng chú ý, một số sản phẩm có thể phát thải các chất thậm chí độc hại hơn khói thuốc lá thông thường.

Theo đại diện WHO, nicotine đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em, thanh thiếu niên và phụ nữ mang thai. Chất này có thể ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ, suy giảm khả năng học tập và gia tăng nguy cơ rối loạn lo âu. Người trẻ sử dụng thuốc lá điện tử cũng có nguy cơ chuyển sang hút thuốc lá điếu thông thường cao hơn.

ndo_bl_1793073101067-4111377648812403589-4111377648812403589-d84846e8d1662917de390c3fc805c3df.jpg
Tiến sĩ Angela Pratt, Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới (WHO) tại Việt Nam nhấn mạnh, các sản phẩm thuốc lá và nicotine mới không an toàn, không có lợi cho sức khỏe. (Ảnh: MINH DUY)

Điều đáng lo ngại là các sản phẩm thuốc lá mới đang được thiết kế và tiếp thị nhằm thu hút giới trẻ. Tại Việt Nam, nhiều sản phẩm có hương vị như dưa hấu, kẹo bông, bánh tart chanh, cùng bao bì bắt mắt, thậm chí được thiết kế giống đồ chơi.

Nhắc lại hình ảnh Bộ trưởng Y tế Đào Hồng Lan đưa ra một sản phẩm thuốc lá điện tử có hình dạng đồ chơi tại Quốc hội vào tháng 11/2024, Tiến sĩ Angela Pratt cho rằng đây là minh chứng rõ ràng về cách thức các sản phẩm này hướng đến trẻ em và thanh thiếu niên.

Đại diện WHO cũng cảnh báo, nhiều doanh nghiệp sản xuất và tiếp thị những sản phẩm mới chính là các doanh nghiệp từng phủ nhận mối liên hệ giữa hút thuốc lá và ung thư phổi trong nhiều thập kỷ. Theo bà, việc phát triển các dòng sản phẩm này không nhằm giúp người hút thuốc cai nghiện, mà là cơ hội kinh doanh để tạo ra một thế hệ người lệ thuộc nicotine mới.

Đánh giá cao quyết định cấm thuốc lá điện tử và thuốc lá nung nóng của Việt Nam, WHO cho rằng việc sửa đổi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá là cơ hội quan trọng để thể chế hóa đầy đủ tinh thần Nghị quyết số 173/2024/QH15, trong đó có quy định cấm toàn diện các sản phẩm thuốc lá và nicotine mới, kể cả bộ phận, linh kiện của những sản phẩm này.

Đặc biệt, WHO lưu ý nguy cơ xuất hiện khoảng trống pháp lý nếu định nghĩa về nguyên liệu thuốc lá chỉ bao gồm các chất chứa nicotine mà không bao quát những chất không chứa nicotine được sử dụng trong các sản phẩm thuốc lá.

Theo WHO, thuốc lá điện tử không chứa nicotine vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Các sản phẩm này có thể chứa những hợp chất tương tự nicotine, có đặc tính gây nghiện và gây hại cho sức khỏe; có thể dễ dàng được bổ sung dung dịch chứa nicotine; đồng thời dung dịch và khí thải của những sản phẩm này vẫn có thể chứa những chất độc hại khác.

ndo_bl_1793073097969-4111377648812403589-4111377648812403589-2f579b23d0954345502ff517db982da1.jpg
Theo WHO, thuốc lá điện tử không chứa nicotine vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. (Ảnh: MINH DUY)

Việc loại trừ nhóm sản phẩm này khỏi phạm vi điều chỉnh của luật còn gây khó khăn cho công tác quản lý. Một sản phẩm được ghi nhãn không chứa nicotine nhưng thực tế vẫn có thể chứa chất này, đòi hỏi cơ quan chức năng phải có năng lực xét nghiệm đủ mạnh để xác định thành phần.

WHO cảnh báo ngành công nghiệp thuốc lá có thể tận dụng bất kỳ kẽ hở pháp lý nào để tạo ra những nhóm sản phẩm mới, nằm ngoài phạm vi kiểm soát.

Vì vậy, WHO khuyến nghị định nghĩa nguyên liệu thuốc lá trong dự thảo luật sửa đổi cần bao gồm cả lá thuốc lá và nguyên liệu có nguồn gốc từ cây thuốc lá, các chất chứa nicotine và các chất không chứa nicotine được sử dụng cho sản phẩm thuốc lá.

Theo đại diện WHO, việc cấm toàn diện các loại thuốc lá điện tử, bao gồm cả sản phẩm không chứa nicotine, không chỉ giúp khắc phục những khoảng trống pháp lý mà còn tạo thuận lợi cho công tác thực thi, phù hợp hơn với tinh thần Nghị quyết số 173/2024/QH15 của Quốc hội.

Đối với người đang hút thuốc có nhu cầu cai nghiện, WHO khuyến nghị lựa chọn những biện pháp đã được chứng minh hiệu quả, như tư vấn của nhân viên y tế, đường dây hỗ trợ cai thuốc lá, hỗ trợ thay đổi hành vi và các loại thuốc cai nghiện được phê duyệt, thay vì tin vào những lời quảng cáo thiếu căn cứ của ngành công nghiệp thuốc lá.

27/10/2026 10:25 Có 16 triệu người hút thuốc lá, nhưng hàng chục triệu người đang phải chịu ảnh hưởng bởi sản phẩm này

Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền, Giám đốc quốc gia Tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids tại Việt Nam thông tin: Công ước Khung về Kiểm soát thuốc lá (FCTC) do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ban hành quy định việc quảng cáo, khuyến mại và tài trợ thuốc lá là hành vi bị cấm và điều này đã được luật hóa tại rất nhiều quốc gia trên thế giới.

Theo báo cáo của WHO, tính đến năm 2025, đã có 68 quốc gia và vùng lãnh thổ thực thi rất tốt quy định này. Nhìn trên bản đồ thế giới, các quốc gia tiên phong thực hiện là các nước thuộc châu Âu, châu Mỹ-Latinh (đặc biệt là Nam Mỹ) và nhiều quốc gia châu Phi. Tuy nhiên, trên bản đồ vẫn còn nhiều quốc gia châu Á, trong đó có Việt Nam, tạo nên một khoảng trống về pháp lý cũng như trong khâu thực thi pháp luật.

ndo_br_1793073282642-607352803838959141-g1305327052687668309-35811f597ea5e2f156bad02883533ee1.jpg
Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền, Giám đốc quốc gia Tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids tại Việt Nam.

Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền nhận định: Hiện nay, phương thức buôn bán và thương mại hóa đã thay đổi rất nhiều. Người tiêu dùng nghe, tìm hiểu và thảo luận về một sản phẩm từ rất lâu trước khi trực tiếp nhìn thấy hay tiếp xúc với nó. Trên mạng xã hội, đặc biệt là các nền tảng thương mại điện tử, việc mua bán diễn ra dễ dàng chỉ bằng… những cú nhấp chuột. Người bán có thể dễ dàng mở tài khoản mới, hủy tài khoản cũ, thành lập các nhóm kín hoặc nhóm công khai để kinh doanh sản phẩm. Đây chính là kẽ hở lớn nếu chúng ta không có một cơ chế pháp lý và cơ chế thực thi toàn diện.

Thuốc lá là một sản phẩm rất đặc biệt, dù là sản phẩm hợp pháp nhưng nó lại cướp đi sinh mạng của một nửa số người sử dụng. Tuy nhiên, việc kiểm soát quảng cáo, khuyến mại và tài trợ vẫn đang là một lỗ hổng lớn.

Thuốc lá là một sản phẩm rất đặc biệt, dù là sản phẩm hợp pháp nhưng nó lại cướp đi sinh mạng của một nửa số người sử dụng. Tuy nhiên, việc kiểm soát quảng cáo, khuyến mại và tài trợ vẫn đang là một lỗ hổng lớn.

Nghiên cứu của Tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids tại 60 quốc gia và vùng lãnh thổ cho thấy, sản phẩm thuốc lá bị đặt ra ngoài phạm vi sức khỏe khi trở thành món đồ thời thượng đối với một bộ phận thế hệ trẻ.

Ngành công nghiệp thuốc lá hiện đang sử dụng 7 phương thức tiếp cận phổ biến: quảng cáo gián tiếp sản phẩm; thuê người nổi tiếng, KOLs, người có sức ảnh hưởng để quảng bá; chạy các quảng cáo có trả phí; hợp tác với các nền tảng thương mại và thương hiệu khác để quảng bá; tài trợ và hợp tác tổ chức các chiến dịch lớn trong các lễ hội âm nhạc, thời trang; thuê các nhà sáng tạo nội dung (content creators) trên Internet viết bài quảng bá sản phẩm; duy trì thường xuyên các hình thức khuyến mại, tặng quà.

ndo_br_quang-canh.jpg
Quang cảnh tọa đàm. (Ảnh: MINH DUY)

Nghiên cứu từ năm 2018-2021 của đơn vị này đối với 3 sản phẩm phổ biến là Velo (túi nicotine), IQOS (thuốc lá nung nóng của Philip Morris) và Puff Bar (thuốc lá điện tử) phản ánh một thực trạng đáng buồn: các sản phẩm này xuất hiện trên các nền tảng số tại 60 quốc gia và vùng lãnh thổ, thu hút 3,4 tỷ lượt xem và tiếp cận. Sản phẩm hướng tới tổng cộng hơn 385 triệu tài khoản người dùng, trong đó có tới 16 triệu tài khoản thuộc về người trẻ dưới 18 tuổi. Điều này giải thích vì sao thanh thiếu niên lại nghe và hiểu về sản phẩm từ rất sớm trước khi trực tiếp tiếp xúc và bắt đầu sử dụng.

Chia sẻ về thực trạng bán lẻ thuốc lá chung quanh khu vực trường học, Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền cho hay, bên cạnh không gian mạng, kênh bán lẻ trực tiếp truyền thống vẫn là nơi thu hút mạnh mẽ. Nghiên cứu của Tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids tại Việt Nam ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minhvề khu vực chung quanh khuôn viên các trường học trong bán kính 100m cho thấy kết quả, trung bình có gần 13 điểm bán lẻ thuốc lá chung quanh một trường học. Các điểm bán này cụ thể, gồm: điểm bán lẻ ven đường, cửa hàng tạp hóa, hộ kinh doanh gia đình, quán cà-phê và các địa điểm khác.

Hầu hết các điểm bán đều bán điếu lẻ, cùng với đó, 57,6% điểm bán trưng bày sản phẩm ở độ cao dưới 1m. Các sản phẩm thuốc lá được đặt ngay bên cạnh các mặt hàng hợp pháp dành cho trẻ em. Như vậy, trẻ em không chỉ có khả năng tiếp cận thuốc lá trên Internet hay môi trường số, mà ngay ngoài đường, chung quanh khu vực trường học.

Có 16 triệu người hút thuốc lá, nhưng có hàng chục triệu người không hút thuốc đang chịu ảnh hưởng bởi các sản phẩm độc hại này.

Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền

Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền, Giám đốc quốc gia Tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids tại Việt Nam cho rằng: Có 16 triệu người hút thuốc lá, nhưng có hàng chục triệu người không hút thuốc đang chịu ảnh hưởng bởi các sản phẩm độc hại này. Để bảo vệ trẻ em và cộng đồng, chúng tôi đưa ra 4 khuyến nghị cốt lõi.

Thứ nhất, đặt thanh thiếu niên và trẻ em làm đối tượng trung tâm trong công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá; giảm tối đa sự tiếp xúc của trẻ em với các sản phẩm thuốc lá.

Thứ hai, hoàn thiện chính sách pháp luật, cụ thể là dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá trình Quốc hội xem xét trong thời gian tới.

Thứ ba, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là các hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới và bài học thành công từ các quốc gia đã có bằng chứng rõ rệt về hiệu quả lâu dài của chính sách.

Thứ tư, tăng cường công tác thực thi pháp luật một cách lâu dài, thường xuyên, phối hợp liên ngành và có sự giám sát của các cơ quan chức năng.

27/10/2026 10:20 Đổi mới cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá – Diện tích lớn hơn, mẫu mới hơn, tác động lớn hơn
ndo_br_ba-huong.jpg
Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Thanh Hương, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Y tế công cộng phát biểu. (Ảnh: MINH DUY)

Trình bày tham luận “Đổi mới cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá”, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Thị Thanh Hương, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Y tế công cộng cho biết, sau 13 năm triển khai Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, hệ thống cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên bao bì thuốc lá tại Việt Nam chưa có sự thay đổi đáng kể. Sáu hình ảnh cảnh báo sức khỏe đang áp dụng tại Việt Nam từ tháng 5/2013 đến nay vẫn giữ nguyên diện tích 50% mỗi mặt chính trước và sau của bao bì.

Theo PGS, TS Lê Thị Thanh Hương, việc sử dụng các hình ảnh cảnh báo trong thời gian dài khiến người hút thuốc dần quen mắt, làm giảm hiệu quả truyền tải thông điệp. Kết quả khảo sát cho thấy, tỷ lệ người hút thuốc chú ý đến cảnh báo sức khỏe giảm từ 91,1% năm 2015 xuống 80% năm 2024.

Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá năm 2012 quy định cảnh báo phải thay đổi 2 năm một lần, nhưng bộ 6 hình ảnh được sử dụng từ 2013 đến nay vẫn chưa được thay đổi. Nghiên cứu năm 2015, 91,1% người hút thuốc nhận thấy cảnh báo; điều tra PGATS 2024 tại 37 tỉnh, thành phố ghi nhận tỷ lệ người hút chú ý đến cảnh báo là 80% – cho thấy dấu hiệu suy giảm sự chú ý tới cảnh bảo sức khỏe trên vỏ bao thuốc lá. Đánh giá năm 2019 của Trường đại học Y tế công cộng cũng cho thấy hiệu quả của cả 6 mẫu đều giảm.

Một vấn đề khác là cảnh báo sức khỏe bằng trên bao bì thuốc lá có thể bị tem thuốc lá che khuất. Theo chuyên gia, Thông tư liên tịch số 05/2013 có quy định cấm che lấp, che mờ cảnh báo sức khỏe, nhưng có “kẽ hở” là “trừ việc dán tem thuốc lá theo quy định của pháp luật” (Điều 4.2a). Chính điểm này làm cho một số sản phẩm thuốc lá lưu hành trên thị trường có cảnh báo sức khỏe bị tem che một phần lớn diện tích. Vì vậy, cần quy định rõ trong Luật việc không để tem thuốc lá hoặc bất kỳ vật liệu nào che lấp cảnh báo sức khỏe trên bao bì.

Về diện tích cảnh báo, Việt Nam tụt hạng về cảnh báo sức khỏe từ vị trí thứ 28 trong số 198 quốc gia và vùng lãnh thổ năm 2014 xuống vị trí thứ 95 trong số 212 quốc gia và vùng lãnh thổ năm 2025 khi xét theo diện tích cảnh báo sức khỏe. Trong khi đó, nhiều quốc gia đã tăng đáng kể diện tích cảnh báo trên bao bì thuốc lá. Thái Lan áp dụng diện tích cảnh báo 85%; Lào, Myanmar, Singapore và Brunei áp dụng mức 75%.

Thực trạng này cho thấy cần đổi mới cả diện tích, hình thức và nội dung cảnh báo sức khỏe nhằm duy trì hiệu quả truyền thông về tác hại của thuốc lá.

Theo PGS, TS Lê Thị Thanh Hương, cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh tác động đến hành vi của người hút thuốc theo một chuỗi liên tiếp: thu hút sự chú ý, tăng khả năng ghi nhớ, giúp người hút hiểu rõ hơn về nguy cơ sức khỏe, hình thành ý định bỏ thuốc và thúc đẩy nỗ lực bỏ thuốc.

Cảnh báo có diện tích lớn hơn, hình ảnh rõ ràng và nội dung mới giúp tăng khả năng thu hút sự chú ý, ghi nhớ thông điệp và nhận thức về những nguy cơ do thuốc lá gây ra. Ngược lại, khi cảnh báo nhỏ và được sử dụng trong thời gian dài mà không thay đổi, người hút thuốc dễ quen mắt, khiến hiệu quả tác động của cảnh báo suy giảm.

Các số liệu cho thấy, nhóm người hút thuốc chú ý đến cảnh báo sức khỏe có ý định bỏ thuốc cao gấp 2,3 lần so với nhóm không chú ý đến cảnh báo. Có 63,4% người thuộc nhóm chú ý đến cảnh báo nghĩ đến việc bỏ thuốc. Tỷ lệ cố gắng bỏ thuốc ở nhóm này là 40%, so với 34% ở nhóm còn lại. 6/9 nghiên cứu được dẫn cho thấy tỷ lệ hút thuốc giảm.

Các số liệu cho thấy, nhóm người hút thuốc chú ý đến cảnh báo sức khỏe có ý định bỏ thuốc cao gấp 2,3 lần so với nhóm không chú ý đến cảnh báo. Có 63,4% người thuộc nhóm chú ý đến cảnh báo nghĩ đến việc bỏ thuốc. Tỷ lệ cố gắng bỏ thuốc ở nhóm này là 40%, so với 34% ở nhóm còn lại. 6/9 nghiên cứu được dẫn cho thấy tỷ lệ hút thuốc giảm.

Từ những bằng chứng này, chuyên gia nhấn mạnh việc tăng diện tích và thay đổi định kỳ cảnh báo sức khỏe có ý nghĩa quan trọng trong duy trì sự chú ý của người hút thuốc. Đây là mắt xích đầu tiên, tạo điều kiện để cảnh báo tiếp tục phát huy tác dụng trong việc nâng cao nhận thức và thúc đẩy thay đổi hành vi.

Một trong những đề xuất trọng tâm của chuyên gia là tăng diện tích cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh từ mức 50% hiện nay lên ít nhất 85% trên mỗi mặt chính của bao bì thuốc lá, đồng thời đặt cảnh báo ở phía trên bao bì và phóng to hình ảnh.

Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh nên chiếm ít nhất 50% diện tích bao bì và diện tích càng lớn càng tốt.

Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam năm 2024 cho thấy, khi hình ảnh cảnh báo được phóng to, nhận thức của người hút thuốc về nguy cơ sức khỏe tăng lên. Tham luận cũng dẫn số liệu 11 quốc gia đã áp dụng diện tích cảnh báo từ 85% trở lên, trong đó có Thái Lan với mức 85% từ năm 2014.

Theo ước tính của Bộ Y tế, việc tăng diện tích cảnh báo lên 85% có thể giúp giảm khoảng 815.100 người hút thuốc sau sáu năm. Thường trực Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cũng đề nghị áp dụng diện tích cảnh báo từ 85% trở lên hoặc xây dựng lộ trình tăng lên mức 85-100%.

Từ những phân tích trên, chuyên gia đề xuất tăng diện tích cảnh báo sức khỏe lên ít nhất 85%, dành phần diện tích tăng thêm để phóng to hình ảnh, qua đó nâng cao khả năng thu hút sự chú ý và truyền tải thông điệp về tác hại của thuốc lá.

In số Tổng đài tư vấn cai thuốc lá miễn phí trên bao bì

Bên cạnh việc tăng diện tích cảnh báo, chuyên gia đề xuất in số Tổng đài tư vấn cai thuốc lá miễn phí 1800 6606 trực tiếp trên bao bì thuốc lá để người hút dễ nhận biết và tiếp cận hỗ trợ khi có nhu cầu bỏ thuốc.

Theo bà Hương, sau gần 10 năm hoạt động, tổng đài đã tiếp nhận khoảng 71.000 cuộc gọi trong giai đoạn 2015-2024. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu thì chỉ có 7,5% người hút thuốc biết đến tổng đài. Nghiên cứu thử nghiệm tại Việt Nam năm 2024 cho thấy, việc in số tổng đài trên bao bì thuốc lá giúp khả năng ghi nhớ số điện thoại tăng từ 3 đến 4 lần. Trên thế giới, số tổng đài tư vấn cai thuốc đã được in trên bao bì thuốc lá tại 37 quốc gia vào năm 2018, tăng so với năm quốc gia năm 2007.

Từ thực tế này, chuyên gia cho rằng cần gắn cảnh báo về tác hại của thuốc lá với thông tin hướng dẫn cai thuốc, giúp người hút không chỉ nhận biết nguy cơ sức khỏe mà còn biết nơi tìm kiếm sự hỗ trợ.

Đổi mới nội dung, thay đổi định kỳ các mẫu cảnh báo sức khỏe

Theo PGS, TS Lê Thị Thanh Hương, cảnh báo sức khỏe cần được đổi mới thường xuyên để tránh tình trạng người hút thuốc quen mắt với những hình ảnh đã sử dụng trong thời gian dài.

Chuyên gia đề xuất xây dựng ngân hàng mẫu cảnh báo sức khỏe với nhiều hình ảnh và thông điệp khác nhau, tổ chức luân phiên định kỳ, bảo đảm thực hiện quy định thay đổi cảnh báo hai năm một lần theo Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Kinh nghiệm quốc tế được đề cập trong tham luận cho thấy Liên minh châu Âu có ba bộ cảnh báo gồm 14 hình ảnh, được luân phiên hằng năm. Australia cũng thay thế bằng bộ 10 cảnh báo mới từ ngày 1/4/2025 sau khi đánh giá hiệu quả của các cảnh báo cũ suy giảm do người dân đã quen mắt.

Về nội dung, chuyên gia đề xuất phát triển các cảnh báo gần gũi với người Việt Nam, tập trung vào những tác hại mà người dân còn ít biết đến. Bên cạnh ung thư phổi, cần chú trọng các nguy cơ như đột quỵ, bệnh tim mạch, ảnh hưởng của khói thuốc thụ động đối với phụ nữ mang thai và trẻ em, cũng như những tác động đến sinh lý. Hình ảnh bệnh lý thực tế và các thí dụ cụ thể cần được ưu tiên để tăng tính trực quan của cảnh báo.

Các số liệu được dẫn tại tọa đàm cho thấy, mặc dù 97,3% người trưởng thành biết hút thuốc gây ung thư phổi, tỷ lệ biết tác hại gây đau tim là 78,5%; chỉ 68,8% biết thuốc lá gây cả ba bệnh được khảo sát là ung thư phổi, đột quỵ và đau tim.

Đối với thế hệ trẻ, tỷ lệ người hút thuốc trong nhóm 15-24 tuổi nghĩ đến việc bỏ thuốc do cảnh báo sức khỏe là 60,3%, thấp hơn mức 65,6% ở nhóm tuổi 45-64. Trong khi đó, 57,3% người từ 15-24 tuổi tiếp cận thông tin phòng, chống tác hại của thuốc lá qua mạng xã hội.

Từ phân tích trên, chuyên gia nhấn mạnh cần đổi mới thông điệp cảnh báo phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là người trẻ; đồng thời nghiên cứu sử dụng các hình ảnh, thông điệp về tác hại của thuốc lá trên mạng xã hội để tăng khả năng tiếp cận thông tin.

Cần đổi mới thông điệp cảnh báo phù hợp với từng nhóm đối tượng, đặc biệt là người trẻ; đồng thời nghiên cứu sử dụng các hình ảnh, thông điệp về tác hại của thuốc lá trên mạng xã hội để tăng khả năng tiếp cận thông tin.

PGS, TS Lê Thị Thanh Hương

Về hình thức cảnh báo mới, theo bà Hương, bên cạnh cảnh báo bằng hình ảnh trên bao bì, một số hình thức cảnh báo được áp dụng tại các quốc gia khác như bao bì tiêu chuẩn hóa, in cảnh báo trực tiếp trên từng điếu thuốc và đưa tờ thông tin về lợi ích của việc bỏ thuốc vào bên trong bao thuốc.

Từ thực trạng và các bằng chứng khoa học, PGS, TS Lê Thị Thanh Hương đề xuất ba nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá.

Thứ nhất, tăng diện tích cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh lên ít nhất 85% trên mỗi mặt chính của bao bì, đặt cảnh báo ở phía trên và phóng to hình ảnh. Đồng thời, cần quy định rõ trong Luật việc không để tem thuốc lá hoặc bất kỳ vật liệu nào che lấp cảnh báo sức khỏe.

Thứ hai, xây dựng ngân hàng nhiều mẫu cảnh báo sức khỏe để luân phiên thay đổi định kỳ, không quá hai năm. Nội dung cần được đổi mới, đa dạng, phù hợp với văn hóa Việt Nam và chú trọng những tác hại của thuốc lá mà người dân còn ít biết đến.

Thứ ba, in số Tổng đài tư vấn cai thuốc lá miễn phí 1800 6606 trên bao bì thuốc lá, giúp người hút dễ dàng tiếp cận thông tin và tìm kiếm hỗ trợ khi có nhu cầu cai thuốc.

Theo chuyên gia, việc triển khai các giải pháp cần đi kèm với thử nghiệm mẫu cảnh báo trước khi áp dụng, đánh giá hiệu quả định kỳ sau khi ban hành và cập nhật theo bằng chứng mới. Đây là cơ sở để bảo đảm cảnh báo sức khỏe tiếp tục phát huy tác dụng, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ.

27/10/2026 10:12 Hoàn thiện chính sách phòng, chống tác hại thuốc lá, bảo vệ thế hệ trẻ

Những nguy cơ từ thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, sự gia tăng các hình thức tiếp thị thuốc lá trên mạng xã hội và những bất cập trong chính sách cảnh báo sức khỏe đang đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện pháp luật, bảo vệ trẻ em và thanh thiếu niên trước tác hại của thuốc lá.

Phát biểu khai mạc và đề dẫn tọa đàm, đồng chí Nguyễn Hoàng Nhật, Phó Trưởng Ban Nhân Dân điện tử, Báo Nhân Dân nhấn mạnh sau hơn 13 năm triển khai Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lánăm 2012, Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận trong nâng cao nhận thức cộng đồng và từng bước xây dựng môi trường không khói thuốc tại các không gian công cộng.

Tuy nhiên, công tác phòng, chống tác hại của thuốc lá đang đối mặt với nhiều thách thức mới, đặc biệt là sự xuất hiện của thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng. Với thiết kế bắt mắt cùng những hình thức quảng bá, tiếp thị ngày càng tinh vi trên mạng xã hội và tại các điểm bán, các sản phẩm này đang tác động trực tiếp đến trẻ em, học sinh, sinh viên.

Đáng lo ngại, những quan niệm sai lệch cho rằng thuốc lá mới ít gây hại hơn thuốc lá truyền thống hoặc có thể sử dụng để thay thế thuốc lá đang làm gia tăng nguy cơ tiếp cận, sử dụng các sản phẩm chứa nicotine trong giới trẻ.

Những quan niệm sai lệch cho rằng thuốc lá mới ít gây hại hơn thuốc lá truyền thống hoặc có thể sử dụng để thay thế thuốc lá đang làm gia tăng nguy cơ tiếp cận, sử dụng các sản phẩm chứa nicotine trong giới trẻ.

Đồng chí Nguyễn Hoàng Nhật

Bên cạnh đó, một số chính sách kiểm soát thuốc lá truyền thống cũng bộc lộ những hạn chế. Điển hình là quy định cảnh báo sức khỏe bằng hình ảnh trên bao bì thuốc lá. Bộ sáu hình ảnh cảnh báo được sử dụng từ năm 2013 đến nay chưa được thay đổi, trong khi diện tích cảnh báo vẫn ở mức 50%, thấp hơn nhiều quốc gia trong khu vực.

Đồng chí Nguyễn Hoàng Nhật cũng lưu ý, tình trạng hút thuốc thụ động vẫn đáng lo ngại khi 35,8% người không hút thuốc phải phơi nhiễm với khói thuốc ngay tại gia đình.

Trước thực trạng đó, việc sửa đổi, bổ sung Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá cần dựa trên bằng chứng khoa học và kinh nghiệm quốc tế, tập trung hoàn thiện các quy định kiểm soát toàn diện thuốc lá điện tử, thuốc lá nung nóng, không để phát sinh khoảng trống pháp lý.

Cùng với đó, cần nghiên cứu nâng diện tích cảnh báo sức khỏe trên bao bì thuốc lá, đổi mới hình ảnh cảnh báo; tăng cường kiểm soát quảng cáo, khuyến mại, trưng bày thuốc lá tại điểm bán và hoạt động tiếp thị trên môi trường số.

Theo đồng chí Nguyễn Hoàng Nhật, bảo vệ thế hệ trẻ trước tác hại của thuốc lá không chỉ là trách nhiệm của các cơ quan quản lý mà cần sự tham gia của gia đình, nhà trường, các tổ chức xã hội và chính thanh thiếu niên.

Đặc biệt, báo chí và truyền thông có vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin khoa học, phản bác những quan niệm sai lệch về thuốc lá mới, đồng thời tạo sự đồng thuận xã hội đối với các chính sách bảo vệ sức khỏe cộng đồng.

ndo_br_nhn.jpg
Đồng chí Nguyễn Hoàng Nhật phát biểu.

Thông qua tọa đàm, Báo Nhân Dân mong muốn tạo diễn đàn để các nhà quản lý, chuyên gia, nhà khoa học và các tổ chức trong nước, quốc tế trao đổi, đề xuất những giải pháp thiết thực, góp phần hoàn thiện chính sách phòng, chống tác hại của thuốc lá.

Đồng chí Nguyễn Hoàng Nhật khẳng định, Báo Nhân Dân sẽ tiếp tục đẩy mạnh các bài viết chuyên sâu, đổi mới phương thức truyền thông trên các nền tảng số, góp phần trang bị kiến thức, nâng cao nhận thức và khuyến khích thế hệ trẻ chủ động nói không với thuốc lá.

NHÓM PHÓNG VIÊN

Sau hơn 13 năm thực thi Luật Phòng, chống tác hại của thuốc lá, công tác bảo vệ sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam đang đứng trước thách thức lớn từ sự xuất hiện của các sản phẩm thuốc lá mới. Ngày 27/10, Báo Nhân Dân tổ chức tọa đàm “Thế hệ người Việt trẻ nói không với thuốc lá” nhằm làm rõ cơ sở khoa học, thực tiễn và pháp lý để ngăn chặn nguy cơ tiếp cận thuốc lá trong thanh thiếu niên. Sự kiện quy tụ đại diện Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội, Trường đại học Y tế công cộng, Hội Bảo vệ quyền trẻ em Việt Nam cùng các tổ chức quốc tế như WHO và Campaign for Tobacco-Free Kids. Tại tọa đàm, Thạc sĩ Đoàn Thu Huyền, Giám đốc quốc gia Tổ chức Campaign for Tobacco-Free Kids tại Việt Nam cảnh báo hiện tượng dịch chuyển phương thức tiêu thụ sang không gian mạng khi có lệnh cấm. Bài học từ Singapore và Lào chứng minh rằng hoạt động mua bán trực tuyến cùng các chiêu thức quảng cáo ngầm trên Facebook hay YouTube sẽ bùng phát nhanh chóng. Do đó, việc ứng dụng công nghệ giám sát số và phối hợp cùng các nền tảng xuyên biên giới là yêu cầu cấp thiết để kịp thời phát hiện vi phạm. Để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, các chuyên gia đề xuất xây dựng cơ chế kiểm soát toàn diện chuỗi cung ứng sản phẩm. Nhà chức trách cần tăng cường năng lực thanh tra, truy quét mã điện tử sản phẩm và xử lý triệt để khâu kho bãi, tàng trữ. Việc hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ sẽ tạo tiền đề vững chắc nhằm ngăn chặn hiệu quả thuốc lá mới xâm nhập vào đời sống học đường.
amung