Bỏ qua điều hướng

'Tôi là ai?' - Khi người trẻ hỏi và tìm hình mẫu trên mạng xã hội

'Tôi là ai?' - Khi người trẻ hỏi và tìm hình mẫu trên mạng xã hội
Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ

Tuổi thiếu niên và vị thành niên là giai đoạn nhu cầu được bạn bè công nhận, tìm kiếm hình mẫu, thử nghiệm các vai trò xã hội phát triển mạnh, và chịu nhiều ảnh hưởng từ mạng xã hội.

"Tôi là ai?" - khi người trẻ đặt câu hỏi và tìm hình mẫu trên mạng xã hội - Ảnh 1.

Nhiều bạn trẻ hiện nay đã ý thức mặt trái mạng xã hội để tập trung học tập, rèn luyện kỹ năng và vui chơi tích cực ngoài đời thực - Ảnh: NAM TRẦN

Một tổng quan hệ thống của ba nhà nghiên cứu khoa học từ Đại học Groningen, Hà Lan Avci, Baams và Kretschmer (2025), tổng hợp 32 nghiên cứu với 19.658 người trẻ, cho thấy điều quan trọng đối với phát triển bản sắc không đơn thuần là trẻ dành bao nhiêu thời gian trên mạng xã hội, mà còn là trẻ làm gì và tiếp xúc với điều gì trên đó?

Mạng xã hội trở thành hệ quy chiếu

Điều này cũng giải thích vì sao không nên đơn giản hóa vấn đề thành "mạng xã hội làm hỏng nhân cách". 

Báo cáo đồng thuận của Viện hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia Mỹ cho rằng bằng chứng hiện có chưa đủ để quy kết mạng xã hội là nguyên nhân trực tiếp gây ra những thay đổi tiêu cực ở tất cả thanh thiếu niên. Tác động phụ thuộc vào đặc điểm cá nhân, giai đoạn phát triển, hoàn cảnh gia đình, loại nội dung, cách sử dụng và thiết kế của nền tảng.

"Tôi là ai?" - khi người trẻ đặt câu hỏi và tìm hình mẫu trên mạng xã hội - Ảnh 2.

Các hoạt động ngoại khóa bổ ích sẽ giúp trẻ giảm thời gian vào mạng xã hội - Ảnh: NTCC

Nếu dòng thời gian trên tài khoản xã hội của một thanh thiếu niên liên tục tràn ngập hình ảnh giàu có, thân hình hoàn hảo, tiêu dùng xa xỉ, quyền lực, sự nổi tiếng hoặc những tuyên bố rằng giá trị con người được xác định bằng tiền, vẻ ngoài và địa vị, những thông điệp đó có thể từng bước trở thành hệ quy chiếu để trẻ đánh giá bản thân.

Các nghiên cứu về hình ảnh cơ thể cũng cho thấy việc thường xuyên tiếp xúc với những hình ảnh lý tưởng hóa trên mạng xã hội có liên quan đến so sánh ngoại hình, bất mãn cơ thể và suy giảm cảm nhận tích cực về bản thân ở một bộ phận thanh thiếu niên và người trẻ.

Ở đây, nguy cơ không nằm ở một bức ảnh hay một video riêng lẻ, mà ở tính lặp lại. Một thông điệp gặp một lần có thể bị bỏ qua. Nhưng khi cùng một quan điểm xuất hiện hàng chục lần, đến từ nhiều tài khoản khác nhau và liên tục được củng cố bằng lượt thích, chia sẻ và bình luận, người xem dễ đánh giá quá cao mức độ phổ biến của nó và dần xem đó như một chuẩn mực xã hội.

Trong khi đó, thuật toán đề xuất làm thay đổi căn bản mức độ ảnh hưởng của truyền thông đối với thanh thiếu niên. Trẻ không còn chỉ chủ động "đi tìm" nội dung. Nội dung cũng chủ động tìm đến trẻ.

"Tôi là ai?" - khi người trẻ đặt câu hỏi và tìm hình mẫu trên mạng xã hội - Ảnh 3.

Trẻ đang thích xem gì trên mạng hiện nay là nỗi lo triền miên của nhiều bậc cha mẹ - Ảnh: AI

Một nghiên cứu do University College London phối hợp với University of Kent và Association of School and College Leaders thực hiện năm 2024 đã tạo các tài khoản mô phỏng những nam thiếu niên quan tâm đến cô đơn, tự hoàn thiện và nam tính.

Chỉ sau năm ngày sử dụng, tỉ lệ nội dung kỳ thị phụ nữ được đề xuất trên TikTok tăng từ khoảng 13% lên 56%. Phỏng vấn giáo viên và lãnh đạo trường học còn cho thấy một số tư tưởng và cách nói kỳ thị phụ nữ trên mạng đã xuất hiện trong tương tác của học sinh ngoài đời thực.

Đây là ví dụ về một cơ chế đáng lo ngại. Một thiếu niên có thể bắt đầu bằng việc tìm kiếm nội dung vô hại như tập gym, tăng sự tự tin hay "làm thế nào để trở thành người đàn ông mạnh mẽ", nhưng sau đó hệ thống đề xuất có thể đưa dần sang những nội dung quy trách nhiệm cho phụ nữ, đề cao sự thống trị, xem cảm xúc là yếu đuối hoặc đưa ra các mô hình nam tính cực đoan.

Những ảnh hưởng được nhìn thấy rõ

Một tổng quan hệ thống và phân tích gộp đăng trên The BMJ (tập san y khoa bình duyệt quốc tế hàng đầu thế giới) năm 2023 tổng hợp 126 nghiên cứu với hơn 1,43 triệu thanh thiếu niên. Kết quả cho thấy việc sử dụng mạng xã hội thường xuyên có liên quan với mức độ cao hơn của nhiều hành vi nguy cơ như uống rượu, hút thuốc, sử dụng chất, hành vi tình dục nguy cơ, hành vi chống đối xã hội và cờ bạc. 

Đặc biệt, tiếp xúc trực tiếp với nội dung mô tả hoặc cổ vũ hành vi nguy cơ cho thấy mối liên hệ đáng chú ý với việc thực hiện những hành vi tương ứng.

Các tác giả đồng thời cảnh báo phần lớn nghiên cứu thuộc loại quan sát nên không thể suy luận đơn giản rằng mạng xã hội là nguyên nhân duy nhất. Tuy nhiên, kết quả cho thấy nội dung mà người trẻ nhìn thấy có ý nghĩa hơn nhiều so với việc chỉ đo số giờ sử dụng.

Một thí nghiệm ngẫu nhiên với 176 trẻ từ 9-11 tuổi cũng minh họa sức mạnh của influencer (người có sức ảnh hưởng trên mạng xã hội). Trẻ được xem các tài khoản Instagram giả lập của những YouTuber nổi tiếng. 

Nhóm nhìn thấy influencer quảng bá đồ ăn không lành mạnh sau đó tiêu thụ lượng thức ăn và đồ ăn không lành mạnh nhiều hơn đáng kể so với nhóm nhìn thấy influencer quảng bá sản phẩm không phải thực phẩm.

Điều này cho thấy người nổi tiếng trực tuyến không chỉ có thể làm thay đổi thái độ hay ý định tiêu dùng mà trong một số điều kiện còn có thể tác động đến hành vi tức thời.

Một trong những trường hợp gây chú ý nhất thế giới là Molly Russell, thiếu nữ 14 tuổi tại Anh qua đời năm 2017. 

Cuộc điều tra tư pháp cho thấy Molly đã tiếp xúc với lượng lớn nội dung liên quan đến trầm cảm. 

Báo cáo của cơ quan tư pháp Anh năm 2022 xác định một số nền tảng đã sử dụng thuật toán để cung cấp liên tiếp những hình ảnh, video và văn bản liên quan đến tự hại mà Molly không nhất thiết chủ động yêu cầu.

Kết luận của điều tra viên cho rằng những nội dung này đã ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe tâm thần của Molly và đóng góp vào cái chết của em ở mức độ "hơn tối thiểu". Báo cáo cũng lưu ý một số nội dung đã bình thường hóa hoặc lãng mạn hóa hành vi tự hại và tạo nên một thế giới quan thiếu những thông tin cân bằng.

Trường hợp Molly Russell đặc biệt quan trọng vì nó cho thấy vấn đề không chỉ nằm ở một "influencer xấu". 

Bản thân hệ thống đề xuất nội dung có thể trở thành một tác nhân dẫn dắt, ngày càng đưa người dùng dễ tổn thương vào một không gian thông tin hẹp hơn.

Không phải mọi người trẻ đều chịu ảnh hưởng như nhau. Một điểm rất quan trọng cần tránh là nhìn thanh thiếu niên như những người tiếp nhận thụ động. Nhiều trẻ có khả năng phản biện cao và mạng xã hội cũng đem lại lợi ích đáng kể về kết nối xã hội, học tập, sáng tạo, khám phá bản sắc và tìm kiếm sự hỗ trợ.

Khảo sát Health Behaviour in School-aged Children của WHO (một nghiên cứu hợp tác xuyên quốc gia được thực hiện dưới sự bảo trợ của Tổ chức Y tế Thế giới nhằm theo dõi và tìm hiểu sức khỏe, sự phát triển cũng như phúc lợi của thanh thiếu niên trong bối cảnh xã hội của họ) với gần 280.000 trẻ 11, 13 và 15 tuổi tại 44 quốc gia và vùng lãnh thổ cho thấy những người sử dụng mạng xã hội nhiều nhưng không theo kiểu có vấn đề vẫn có thể báo cáo mức hỗ trợ bạn bè và kết nối xã hội cao.

Tuy nhiên, tỉ lệ thanh thiếu niên có biểu hiện sử dụng mạng xã hội theo kiểu có vấn đề đã tăng từ 7% năm 2018 lên 11% năm 2022; nhóm này có nhiều khó khăn hơn về sức khỏe tâm thần, giấc ngủ và đời sống xã hội.

Xây dựng "hệ miễn dịch tâm lý" trong môi trường số

Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, APA (2023) khuyến nghị giáo dục media literacy (kiến thức truyền thông) cho trẻ trước khi các em sử dụng mạng xã hội tương đối độc lập, đồng thời duy trì sự giám sát phù hợp với giai đoạn phát triển.

Ở gia đình, biện pháp quan trọng không phải chỉ là kiểm tra điện thoại. Cha mẹ cần duy trì quan hệ để trẻ sẵn sàng nói về thế giới trực tuyến của mình. 

"Tôi là ai?" - khi người trẻ đặt câu hỏi và tìm hình mẫu trên mạng xã hội - Ảnh 4.

Nhà trường và xã hội có nhiều sân chơi bổ ích sẽ kéo trẻ ra khỏi mặt trái mạng xã hội - Ảnh: QUỐC MINH

Những câu hỏi như "Dạo này con thường xem ai?", "Con thích điều gì ở người đó?", "Người đó kiếm lợi ích gì từ nội dung này?" hay "Tại sao dòng thời gian/tường của con ngày càng xuất hiện nhiều video như vậy?" có thể giúp trẻ hình thành tư duy phản biện mà không khiến trẻ cảm thấy bị thẩm vấn.

Ở nhà trường, năng lực số/hiểu biết số nên trở thành một nội dung giáo dục phát triển liên tục, bao gồm thuật toán, người có ảnh hưởng, hình ảnh cơ thể, kỳ thị giới, nội dung tình dục, cờ bạc, hành vi tự hại, tin giả và kỹ năng điều chỉnh cảm xúc khi sử dụng mạng. 

Nghiên cứu của UCL (thành viên liên kết của Đại học London) còn đề xuất mô hình giáo dục "Chế độ sử dụng môi trường số lành mạnh" và "cố vấn đồng đẳng", trong đó học sinh lớn hơn hỗ trợ nhóm nhỏ tuổi hơn nhận diện những nội dung cực đoan hoặc thao túng.

Có lẽ câu hỏi quan trọng nhất không phải là làm thế nào để một đứa trẻ không bao giờ nhìn thấy nội dung độc hại, bởi trong môi trường truyền thông hiện nay mục tiêu đó gần như không thực tế. Câu hỏi quan trọng hơn là làm thế nào để trước khi gặp những nội dung ấy, trẻ đã có một hệ giá trị, năng lực suy nghĩ độc lập và các mối quan hệ đời thực đủ vững để không dễ dàng bị dẫn dắt.

Một thiếu niên có cảm giác được gia đình chấp nhận, có nơi thuộc về trong trường học và cộng đồng, có những hình mẫu người lớn đáng tin cậy, không phụ thuộc hoàn toàn vào lượt thích để xác định giá trị bản thân, hiểu influencer và thuật toán vận hành như thế nào và biết đặt câu hỏi trước những thông điệp cực đoan sẽ có khả năng chống chịu tốt hơn.

Mạng xã hội vì vậy không đơn thuần là một công nghệ truyền tải thông tin. Nó đã trở thành một môi trường phát triển. 

Trong môi trường ấy, influencer, cộng đồng trực tuyến và thuật toán ngày càng tham gia vào những chức năng từng chủ yếu thuộc về gia đình, nhà trường và cộng đồng: cung cấp hình mẫu, truyền đạt chuẩn mực và trả lời cho người trẻ câu hỏi "một người đáng giá nên sống như thế nào".

Bảo vệ thế hệ trẻ do đó không thể chỉ bắt đầu khi hành vi lệch chuẩn đã hình thành. Phòng ngừa từ xa phải bắt đầu sớm hơn, bằng việc xây dựng bản sắc lành mạnh, củng cố quan hệ gia đình, phát triển năng lực phản biện và hiểu biết số, tạo ra những hình mẫu tích cực và đồng thời buộc các nền tảng công nghệ phải chịu trách nhiệm về môi trường mà họ đang tạo ra cho trẻ em.

Đi tìm hình mẫu tích cực thay thế

Một chiến lược khác thường bị bỏ quên là tạo ra hình mẫu thay thế. Chỉ nói với một nam thiếu niên rằng một người có tầm ảnh hưởng cực đoan là "xấu" sẽ không giải quyết được nhu cầu sâu hơn khiến em tìm đến người đó. 

Nếu người có tầm ảnh hưởng cung cấp cho trẻ cảm giác về sức mạnh, mục đích sống, sự thuộc về và một công thức để trở thành "người đàn ông thực thụ", thì xã hội cần cung cấp những hình mẫu lành mạnh nhưng cũng đủ hấp dẫn để đáp ứng những nhu cầu ấy.

Nghiên cứu của eSafety Commissioner (cơ quan quản lý độc lập của Úc về an toàn trực tuyến) cho thấy thiếu các hình mẫu nam giới tích cực, đa dạng và gần gũi là một khoảng trống đáng chú ý trong môi trường số hiện nay.

Cuối cùng, trách nhiệm không thể dừng ở người sử dụng. NASEM (Viện hàn lâm Khoa học, Kỹ thuật và Y học Quốc gia Hoa Kỳ) đề nghị tăng tính minh bạch của thuật toán, mở rộng quyền tiếp cận dữ liệu cho các nhà nghiên cứu độc lập, tăng bảo vệ trẻ trước quấy rối và xem xét những đặc điểm thiết kế nhằm duy trì sự chú ý quá mức.

Liên minh châu Âu năm 2025 cũng ban hành hướng dẫn bảo vệ trẻ vị thành niên theo Đạo luật Dịch vụ kỹ thuật số, nhấn mạnh thiết kế phù hợp lứa tuổi và giảm nguy cơ từ nội dung có hại, hành vi gây nghiện, bắt nạt và các thực hành thương mại gây tổn hại.

"Tôi là ai?" - khi người trẻ đặt câu hỏi và tìm hình mẫu trên mạng xã hội - Ảnh 5.

Niềm say mê học tập và có bạn bè tốt sẽ giúp các em nhận thức được mặt trái mạng xã hội - Ảnh: NTCC

UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc) cũng cảnh báo rằng giới hạn tuổi hoặc cấm mạng xã hội đơn thuần không đủ, bởi trẻ có thể tìm cách vượt qua hạn chế hoặc chuyển sang những môi trường ít được kiểm soát hơn. 

Cách tiếp cận bền vững hơn phải kết hợp nền tảng an toàn ngay từ thiết kế, trách nhiệm của doanh nghiệp và năng lực số của trẻ em, gia đình và nhà trường.

"Tôi là ai?" - khi người trẻ hỏi và tìm hình mẫu trên mạng xã hội - Ảnh 8.Người trẻ ngày càng 'chạy trốn' mạng xã hội để tìm niềm vui đời thực

Căng thẳng, mệt mỏi và mất thời gian với đầy rẫy thông tin tiêu cực, nặng nề trên mạng xã hội, nhiều bạn trẻ không muốn tiếp tục làm "cú đêm, ma mạng" để tập trung cho công việc, học hành, thể thao, vui chơi cùng bạn bè ngoài đời thực.

Việc liên tục tiếp xúc với các hình ảnh lý tưởng hóa về sự giàu có, ngoại hình hay địa vị xã hội vô hình trung biến những thông điệp này thành hệ quy chiếu để giới trẻ đánh giá bản thân. Nguy cơ tâm lý không phát sinh từ một bài đăng riêng lẻ mà đến từ tính chất lặp đi lặp lại được củng cố liên tục bởi lượt thích, chia sẻ và bình luận. Khi một quan điểm xuất hiện dồn dập từ nhiều tài khoản khác nhau, người xem dễ đánh giá quá cao mức độ phổ biến và dần tiếp nhận đó như chuẩn mực xã hội. Thuật toán đề xuất nội dung hiện nay làm thay đổi căn bản cơ chế truyền thông khi thanh thiếu niên không còn chỉ chủ động tìm kiếm mà thông tin tự động tìm đến người dùng. Nghiên cứu năm 2024 của University College London phối hợp cùng University of Kent và Association of School and College Leaders ghi nhận tỷ lệ nội dung kỳ thị phụ nữ đề xuất trên TikTok cho tài khoản giả lập nam thiếu niên quan tâm đến sự tự hoàn thiện đã tăng từ 13% lên 56% chỉ sau năm ngày. Khảo sát tại các trường học ghi nhận những tư tưởng cùng ngôn từ tiêu cực từ không gian mạng đã bắt đầu xuất hiện trong tương tác ngoài đời thực của học sinh.