Từ ngày 1/10, Luật Phát triển đô thị sẽ chính thức có hiệu lực, sau khi được Quốc hội thông qua ngày 24/8. Trong đó, luật có Điều 24 về “Cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam”.
Phóng viên báo Dân trí đã trao đổi với PGS.TS Nguyễn Hữu Huân, Phó Chủ tịch Cơ quan điều hành Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM (VIFC-HCMC), về cơ chế đặc biệt cho trung tâm tài chính này; cú hích lớn trong huy động vốn dài hạn và động lực mới cho mục tiêu tăng trưởng 2 con số của TPHCM.
Luật Phát triển đô thị có ý nghĩa thế nào với VIFC-HCMC trong khả năng luân chuyển vốn cho nền kinh tế?

PGS.TS Nguyễn Hữu Huân (Ảnh: Lam Giang).
- Điểm quan trọng nhất là luật này giúp thay đổi cách nhìn về Trung tâm tài chính quốc tế. Giá trị thực sự của một trung tâm tài chính nằm ở khả năng huy động, cấu trúc, phân bổ và luân chuyển vốn cho nền kinh tế.
Nghị quyết 222/2025/QH15 và các nghị định hướng dẫn đã tạo “hệ điều hành” bên trong của VIFC từ mô hình tổ chức, thành viên, cấp phép, ngoại hối, thuế, sandbox, giải quyết tranh chấp và các quy tắc vận hành. Luật Phát triển đô thị bổ sung một lớp rất quan trọng ở bên ngoài: tạo điều kiện để hệ sinh thái tài chính đó kết nối với doanh nghiệp, dự án, hạ tầng và nhu cầu phát triển của đô thị.
Nói một cách dễ hình dung, nếu Nghị quyết 222 giúp xây “cỗ máy tài chính”, thì Luật Phát triển đô thị tạo thêm “đường dẫn” để cỗ máy đó đưa vốn vào nền kinh tế thực. Đây là bước chuyển từ tư duy “xây một trung tâm tài chính” sang “dùng trung tâm tài chính để phát triển thành phố”.
Điều 24 của luật được xem là điểm khác biệt giúp VIFC-HCMC tránh khỏi “ốc đảo tài chính”, vì sao thưa ông?
Thay đổi đáng chú ý nhất là luật mở một cầu nối pháp lý chính thức giữa thành viên VIFC-HCMC và các tổ chức trong nước có nhu cầu giao dịch, huy động vốn quốc tế. Thành viên VIFC-HCMC có thể cung cấp dịch vụ tài chính và dịch vụ hỗ trợ theo phạm vi được cấp phép cho các tổ chức trong nước để thực hiện giao dịch và thu hút vốn quốc tế. Đồng thời vẫn phải tuân thủ các yêu cầu về ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố và quản lý nợ công.
Quy định này rất quan trọng. Bởi nếu thành viên VIFC-HCMC chỉ giao dịch với nhau trong một vòng khép kín, trung tâm này rất dễ trở thành một “ốc đảo tài chính”: có ưu đãi, có tên tuổi quốc tế nhưng ít tác động đến nền kinh tế. Khi doanh nghiệp và dự án trong nước có thể tiếp cận có kiểm soát với hệ sinh thái dịch vụ của VIFC-HCMC, trung tâm mới thực sự trở thành cửa ngõ huy động vốn quốc tế.
Một doanh nghiệp hoặc dự án đủ điều kiện khi đó không chỉ đi vay tiền. Họ có thể tiếp cận cả một chuỗi dịch vụ: tư vấn cấu trúc vốn, xếp hạng tín nhiệm, kiểm toán, tư vấn pháp lý, bảo lãnh phát hành, thu xếp khoản vay hợp vốn, quản trị ngoại hối, bảo hiểm, lưu ký, thanh toán và quản trị rủi ro. Đây chính là chuỗi giá trị tạo nên sức mạnh của các trung tâm tài chính lớn trên thế giới.

Trung tâm tài chính quốc tế giúp mở rộng nguồn vốn dài hạn ngoài tín dụng ngân hàng như từ quỹ đầu tư hạ tầng, bảo hiểm, quỹ hưu trí... (Ảnh: Mạnh Quân).
Luật cũng đề cập đến ngân hàng có hoạt động ngân hàng đầu tư, phát hành sản phẩm tài chính quốc tế thông qua VIFC-HCMC, có thể tạo ra thay đổi về chất đối với thị trường vốn?
Đúng vậy! Trong nhiều năm, nền kinh tế Việt Nam phụ thuộc khá lớn vào tín dụng ngân hàng thương mại. Trong khi đó, các dự án hạ tầng như metro, cảng biển, sân bay, hạ tầng số hay năng lượng có vòng đời 20-40 năm, cần nguồn vốn rất dài hạn. Nếu đưa phần lớn nhu cầu đó vào bảng cân đối của ngân hàng thương mại sẽ phát sinh áp lực về kỳ hạn, an toàn vốn và tập trung rủi ro.
Chức năng của ngân hàng đầu tư không phải là thay thế ngân hàng thương mại mà là biến một nhu cầu vốn thành một cấu trúc tài chính có thể đầu tư được. Họ có thể tư vấn cấu trúc giao dịch, bảo lãnh phát hành, thu xếp vốn, tổ chức tín dụng hợp vốn, tư vấn mua bán - sáp nhập, chứng khoán hóa và phân phối sản phẩm cho các nhà đầu tư có khẩu vị khác nhau.
Cùng với cơ chế phát hành sản phẩm tài chính quốc tế qua VIFC-HCMC, thành phố có thể từng bước hình thành năng lực phát hành trái phiếu quốc tế, trái phiếu xanh, trái phiếu công trình, quỹ đầu tư hạ tầng, các sản phẩm cấu trúc hoặc những công cụ huy động khác theo khuôn khổ pháp lý được cho phép.
Điều quan trọng không phải chỉ là “có thêm sản phẩm”, mà là hình thành đầy đủ chuỗi: tạo thương vụ - cấu trúc - bảo lãnh/thu xếp - phân phối - giao dịch thứ cấp ngay tại TPHCM.

Thành công của VIFC-HCMC phải là khả năng chuyển dòng vốn toàn cầu thành năng lực phát triển thực của thành phố (Ảnh: Nam Anh).
Nếu nhìn từ mục tiêu tăng trưởng của TPHCM, trung tâm tài chính quốc tế sẽ đóng góp ra sao?
VIFC-HCMC giúp mở rộng nguồn vốn dài hạn ngoài tín dụng ngân hàng, đặc biệt từ quỹ đầu tư hạ tầng, bảo hiểm, quỹ hưu trí, quỹ chủ quyền, quỹ tín dụng tư nhân và các nhà đầu tư tổ chức quốc tế.
Đồng thời khi một dự án được chuẩn hóa, có công bố thông tin tốt, xếp hạng tín nhiệm và được tiếp cận nhiều nhà đầu tư sẽ có khả năng huy động vốn với mức giá cạnh tranh hơn so với việc chỉ đàm phán song phương với một vài nguồn vốn.
Trung tâm tài chính quốc tế Việt Nam tại TPHCM có quy mô khoảng 898ha tại các phường Sài Gòn, Bến Thành và khu đô thị mới Thủ Thiêm (phường An Khánh), vận hành theo các cơ chế, chính sách đặc thù. Sau 6 tháng hoạt động, tổng vốn cam kết từ các nhà đầu tư, đối tác trong và ngoài nước vào VIFC-HCMC đạt khoảng 20 tỷ USD.
Trung tâm tài chính này có thể giúp thành phố chuyển hóa tài sản và dòng tiền trong tương lai thành nguồn lực đầu tư hiện tại. Ví dụ, các nguồn thu từ TOD, khai thác thương mại tại nhà ga, logistics, cảng biển, phí hạ tầng hoặc các hợp đồng dài hạn có thể được cấu trúc thành sản phẩm đầu tư phù hợp. Tuy nhiên việc này phải nằm trong giới hạn an toàn tài khóa và có cơ chế định giá minh bạch…
Thước đo của VIFC-HCMC không nên chỉ là số lượng thành viên hay diện tích văn phòng được lấp đầy; quan trọng hơn là lượng vốn được huy động, chi phí vốn giảm bao nhiêu và có bao nhiêu dự án của thành phố tiếp cận được nguồn vốn dài hạn.
Nếu được triển khai tốt, những lĩnh vực nào của TPHCM có thể hưởng lợi sớm nhất?
Đầu tiên là hạ tầng đô thị, đặc biệt metro và TOD. Bởi đây là những dự án cần vốn rất dài hạn và có thể hình thành nhiều nguồn thu bổ trợ ngoài tiền vé. Các sản phẩm phù hợp có thể là trái phiếu công trình, trái phiếu xanh, quỹ hạ tầng, cấu trúc PPP và các công cụ huy động gắn với tài sản TOD.
Thứ hai, cảng biển - logistics - hàng hải. Khi TPHCM phát triển các cụm cảng, logistics và kinh tế biển, nhu cầu không chỉ là vốn đầu tư cảng mà còn có tài chính tàu biển, tài trợ thương mại, tài trợ chuỗi cung ứng, bảo hiểm, tái bảo hiểm và phòng ngừa biến động giá nhiên liệu, tỷ giá.
Thứ ba, hàng không và kết nối với sân bay Long Thành. Đây là một thị trường cần những sản phẩm rất đặc thù như thuê và mua máy bay, tài trợ tiền đặt cọc, tài trợ động cơ, khoản vay hợp vốn, chứng khoán hóa tài sản hàng không, bảo hiểm và quản trị ngoại tệ.
Thứ tư, khu thương mại tự do, sản xuất và xuất nhập khẩu. Khi dòng hàng tăng lên, nhu cầu thanh toán xuyên biên giới, tài trợ thương mại, bảo lãnh, quản trị ngoại hối và tài trợ chuỗi cung ứng cũng tăng theo. VIFC-HCMC có thể kết nối dòng vốn với dòng hàng của một siêu đô thị có cảng biển, công nghiệp, logistics và thương mại lớn.
Cuối cùng là chuyển đổi xanh, hạ tầng số và kinh tế công nghệ. Đây là những lĩnh vực có khả năng hấp thụ vốn quốc tế tốt nếu dự án được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế và có cơ chế thử nghiệm, giám sát phù hợp.
Chuyển dòng vốn toàn cầu thành năng lực phát triển thực
Nếu Nghị quyết 222 trả lời câu hỏi “VIFC-HCMC là gì và hoạt động theo cơ chế nào”, thì Luật Phát triển đô thị bổ sung câu trả lời cho câu hỏi “VIFC sẽ tạo ra giá trị gì cho thành phố?”. Khi hai khung pháp lý này kết nối đúng, VIFC-HCMC có thể phát triển từ một cụm định chế tài chính thành hạ tầng thị trường, và xa hơn là “bộ não tài chính” của hệ sinh thái đô thị.
Ở đó, nhu cầu vốn của metro, cảng biển, logistics, hàng không, khu thương mại tự do, chuyển đổi xanh và doanh nghiệp được cấu trúc thành những sản phẩm mà nhà đầu tư trong và ngoài nước có thể hiểu, định giá và đầu tư. Dòng vốn quốc tế khi đó không đứng ngoài nền kinh tế, mà đi trực tiếp vào những động lực tăng trưởng của TPHCM.
VIFC-HCMC cần được nhìn như một hạ tầng kinh tế của thành phố: hạ tầng dành cho dòng vốn. Và thành công cuối cùng là khả năng chuyển dòng vốn toàn cầu thành năng lực phát triển thực của thành phố.