Một buổi sáng, bước vào thang máy, tôi gặp ba, bốn học sinh. Cháu nào cũng ngáp ngủ, khuôn mặt phờ phạc, chiếc ba lô căng phồng trên vai. Hỏi tối qua ngủ lúc mấy giờ, một cháu nói sau 12h đêm vì còn phải làm bài.
Các cháu học cả ngày ở trường, chiều tối học thêm, có cháu hơn 9h tối mới về nhà rồi tiếp tục làm bài tập. Trong ba lô không chỉ có sách giáo khoa, vở ghi mà còn đủ loại tài liệu học thêm, có cháu mang theo cả vợt cầu lông. Nhìn những đứa trẻ ấy, tôi nghĩ đến một câu hỏi tưởng đơn giản: giáo dục phổ thông đang cung cấp cho các cháu những điều thật sự cần thiết, hay đang chất ngày càng nhiều kiến thức lên vai?
Nhìn ra thế giới, nhiều quốc gia đã coi giấc ngủ và thời gian nghỉ ngơi của trẻ em là một vấn đề sức khỏe và giáo dục, chứ không phải khoảng thời gian có thể tùy tiện cắt bớt. Việc khuyến khích trẻ đi ngủ sớm, bảo đảm thời lượng ngủ phù hợp với lứa tuổi được xem là một phần của phát triển thể chất và tinh thần.

Học sinh ở TPHCM trong ngày khai giảng năm học mới (Ảnh: DT).
Điều này đáng để chúng ta suy nghĩ: nếu giáo dục chỉ chăm chăm làm cho trẻ biết thêm một công thức, nhớ thêm một khái niệm mà lấy đi thời gian ngủ, vận động và nghỉ ngơi, thì liệu đó có còn là một nền giáo dục hướng tới sự phát triển toàn diện? Thể lực của một thế hệ không thể là phần việc để sau này mới tính.
Tại phiên họp Chính phủ thường kỳ vừa qua, Thủ tướng Lê Minh Hưng yêu cầu tổng rà soát chương trình, nội dung dạy học, kiểm tra và nghiên cứu điều chỉnh để giảm áp lực học tập, thi cử. Điều đáng nói, đây là lần thứ hai trong tuần Thủ tướng yêu cầu rà soát, điều chỉnh chương trình phổ thông theo hướng giảm tải. Điều đó cho thấy vấn đề cấp thiết đặt ra lúc này: cần nhìn lại cách hiểu và tổ chức giáo dục phổ thông.
“Phổ thông” trước hết là nền tảng chung cho mọi học sinh. Phổ thông không có nghĩa là học quá cao siêu. Các em cần được học tiếng Việt, toán, khoa học, lịch sử, văn hóa, đạo đức, thể chất và những kỹ năng cần thiết để học tập, làm việc, giao tiếp và sống có trách nhiệm.
Học sinh có năng khiếu và mong muốn đi sâu vào khoa học, công nghệ hay một lĩnh vực chuyên môn nào đó phải có cơ hội học sâu hơn. Nhưng những kiến thức ấy có thể được phân hóa và tiếp tục ở trung học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, cao đẳng, đại học và các chương trình chuyên biệt. Không nên vì một bộ phận học sinh cần học sâu mà tất cả phải mang cùng một khối lượng kiến thức.
Giảm tải chương trình phải đi liền với giảm áp lực thi cử. Chương trình nhẹ hơn mà đề thi vẫn rộng và sâu, việc dạy thêm, học thêm sẽ tiếp tục. Tuyển sinh đại học còn tạo sức ép lớn, học sinh trung học phổ thông vẫn khó thoát khỏi tâm lý học để thi. Vì vậy, chương trình, sách giáo khoa, phương pháp dạy học, kiểm tra, thi và tuyển sinh phải được nhìn như một hệ thống.
Giảm tải cũng không có nghĩa là hạ chuẩn. Khi nội dung được tinh gọn, những kiến thức cốt lõi càng phải rõ và việc dạy, học càng phải thực chất. Học sinh không cần nhớ thật nhiều điều để rồi nhanh chóng quên đi. Điều quan trọng hơn là hiểu những điều cơ bản, biết đặt câu hỏi, tìm thông tin, giải quyết vấn đề và tiếp tục học khi bước ra khỏi nhà trường.
Đặc biệt, phải nhìn vào “tổng tải thực tế”. Một học sinh có thể học sáu, bảy tiết ở trường nhưng sau đó còn học thêm, làm bài tập, luyện thi, tham gia cuộc thi, hoàn thành nhiệm vụ trên các nền tảng trực tuyến. Cộng tất cả lại, một ngày của trẻ có thể kín từ sáng đến khuya. Vì thế, giảm tải không thể chỉ được đo bằng số tiết trên thời khóa biểu hay số trang sách được cắt giảm. Thước đo cuối cùng phải là tổng thời gian thực tế học sinh dành cho việc học. Nếu chương trình giảm trên giấy nhưng học sinh vẫn phải làm bài đến khuya, học thêm quá nhiều, tham gia quá nhiều cuộc thi và hoàn thành vô số nhiệm vụ ngoài giờ, thì giảm tải chưa thực chất.
Thời đại mới đặt ra nhiều yêu cầu và kỹ năng mới. Tiếng Anh cần hơn, kỹ năng số cần hơn, trí tuệ nhân tạo cần hơn, kỹ năng sống cần hơn, hướng nghiệp cần hơn, trải nghiệm cần hơn. Đó là yêu cầu khách quan của thực tiễn. Nhưng có thêm thì phải có bớt. Tuyệt đối tránh tư duy “chỉ thêm, không bớt” khiến chương trình không ngừng nở ra, học sinh và kể cả thầy cô ngày càng quá tải, mệt mỏi, mất động lực sáng tạo…
Có một câu chuyện trong gia đình khiến tôi nhiều lần suy nghĩ. “Cả năm học chúng con không học môn đạo đức bao giờ. Nhà con, nhà các bạn đều mua sách mang đến lớp đủ cả, nhưng cả năm sách chỉ nằm trên giá. Tại sao chúng con không được học môn đạo đức?”, cô cháu gái trong nhà đang học lớp 5 một trường tư nổi tiếng ở Hà Nội từng đặt ra thắc mắc này từ hồi lớp 2. “Có lẽ nào toán, tiếng Anh, toán bằng tiếng Anh, khoa học bằng tiếng Anh… học mệt nghỉ không xong thì lấy đâu thời gian cho những môn khác?”, người mẹ cô cháu gái cười xòa.
Từ khi học lớp 1 đến lớp 5, cháu vẫn hỏi những điều rất giản dị về cách ứng xử, về đúng - sai, về vì sao phải sống tử tế với người khác, nhưng nhiều câu hỏi chưa có một không gian học tập đủ thời gian và sự chú ý để trả lời. Ngành giáo dục có biết những câu hỏi ấy đang nằm ở đâu trong chương trình và trong đời sống của học sinh?
Trẻ em cần thời gian để ngủ, vận động, đọc sách, chơi, giao tiếp với bạn bè, ở bên gia đình và theo đuổi một sở thích. Đó không phải thời gian bị lấy mất của việc học. Đó cũng là một phần của quá trình trưởng thành. Một đứa trẻ học từ sáng đến tối, làm bài đến khuya có thể tích lũy thêm kiến thức, nhưng khó có đủ thời gian để phát triển thể chất, sự cân bằng và khả năng sáng tạo.
Giảm tải vì thế không phải làm cho việc học nhẹ đi. Đó là làm cho việc học đúng trọng tâm, khoa học và phù hợp với từng lứa tuổi. Học sinh học những điều cần thiết, học sâu ở những lĩnh vực phù hợp, có thời gian thực hành và có cơ hội phát triển năng lực riêng. Một chương trình tốt không phải chương trình có nhiều nội dung nhất, mà là chương trình biết chọn những nội dung quan trọng nhất.
Phải coi mỗi giờ học của hàng triệu học sinh là một phần nguồn lực của đất nước. Nếu các em phải dành quá nhiều thời gian cho những kiến thức không bao giờ dùng đến, sự lãng phí không chỉ nằm ở sự mệt mỏi của từng gia đình mà còn ở nguồn lực xã hội. Điều cần hướng tới là một nền giáo dục phổ thông đủ chắc về nền tảng, đủ rộng về hiểu biết, đủ linh hoạt để phân hóa và đủ thực tế để chuẩn bị cho những con đường khác nhau sau nhà trường.
Tôi mong sáng ra bước vào thang máy, sẽ gặp những đứa trẻ sảng khoái bước vào một ngày mới, cặp sách nhẹ nhàng hơn, đầu óc thoải mái hơn, và sự háo hức “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”. Mong ước giản dị ấy không thể mãi xa vời khi chúng ta luôn nói phải dành những điều tốt đẹp nhất cho thế hệ tương lai!
Tác giả: PGS.TS Đỗ Chí Nghĩa là Đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Văn hóa và Xã hội.
Chuyên mục TÂM ĐIỂM mong nhận được ý kiến của bạn đọc về nội dung bài viết. Hãy vào phần Bình luận và chia sẻ suy nghĩ của mình. Xin cảm ơn!