Bỏ qua điều hướng
•

Từ Chiếu dời đô đến khát vọng đất nước giàu có, thịnh vượng

Từ Chiếu dời đô đến khát vọng đất nước giàu có, thịnh vượng
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Thật thú vị khi trở lại với lịch sử, đọc Chiếu dời đô của Lý Thái Tổ năm 1010, để càng thấm thía tầm nhìn vượt thời đại của vị vua đã đặt nền móng cho vận mệnh lâu dài của Thăng Long - Hà Nội.

Tầm vóc trong quyết định dời đô của Lý Thái Tổ không đơn thuần nằm ở việc chọn một địa điểm mới để đặt kinh đô mà ở tư duy chiến lược: Kinh đô phải phục vụ sự nghiệp dựng nước, mở mang bờ cõi và phát triển quốc gia lâu dài, chứ không chỉ đáp ứng yêu cầu phòng thủ trước mắt của một triều đại.

Từ Chiếu dời đô đến khát vọng đất nước giàu có, thịnh vượng- Ảnh 1.

Mô hình cung điện ở Hoàng thành Thăng Long

ẢNH: HÀ VƯƠNG

Trong thời Đinh - Tiền Lê, Hoa Lư có lợi thế rõ rệt về phòng thủ nhờ địa thế núi non hiểm trở. Đó là sự lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh một quốc gia còn non trẻ, cần củng cố nền độc lập và bảo vệ chính quyền vừa được tạo dựng. Nhưng khi đất nước bước sang một giai đoạn mới, muốn phát triển cần một không gian rộng mở, một trung tâm có khả năng kết nối các vùng miền, quy tụ nguồn lực và tạo động lực cho sự phát triển lâu dài.

Lý Công Uẩn đã "mưu toan nghiệp lớn", tính kế lâu dài cho muôn đời con cháu. Ông không chỉ nhìn vào những gì đất nước đang có, mà còn nhìn thấy những gì đất nước cần có để vươn tới tương lai.

Hoa Lư phù hợp với yêu cầu bảo vệ một quốc gia đang trong buổi đầu dựng nghiệp; Đại La mở ra không gian phát triển cho một quốc gia đang trên đường lớn mạnh. Trong Chiếu dời đô, Lý Thái Tổ nhìn Đại La bằng một tầm nhìn toàn diện: vị trí trung tâm, địa thế rộng rãi, bằng phẳng, cao ráo, thuận lợi cho việc đi lại và giao thương bằng đường thủy, có điều kiện tập trung dân cư, phát triển kinh tế.

Điều đó cho thấy nhà vua không xem kinh đô đơn thuần là một pháo đài để bảo vệ ngai vàng. Ông nhìn kinh đô như trung tâm tổ chức và điều hành đất nước, nơi hội tụ nguồn lực, kết nối các vùng miền và mở đường cho sự phát triển của cả dân tộc.

Hơn 1.000 năm đã trôi qua, lịch sử đã chứng minh tính đúng đắn của lựa chọn ấy.

Từ Chiếu dời đô đến khát vọng đất nước giàu có, thịnh vượng- Ảnh 2.

Phục dựng điện Kính Thiên là mong ước của nhiều người

ẢNH: TL CỦA NGƯỜI PHÁP

Kinh đô từng được đặt ở những địa điểm khác nhau. Triều Nguyễn chọn Huế làm kinh đô từ năm 1802 - 1945, kéo dài 143 năm. Đó là dấu ấn quan trọng trong lịch sử dân tộc. Tuy nhiên, Hà Nội vẫn tiếp tục giữ vai trò trung tâm của đất nước. Tên gọi của vùng đất này cũng trải qua nhiều biến đổi: từ Đại La đến Thăng Long, Đông Đô, Đông Quan, Đông Kinh và cuối cùng là Hà Nội. Mỗi tên gọi gắn với một hoàn cảnh lịch sử, một bước ngoặt của đất nước nhưng vai trò trung tâm của Hà Nội vẫn được xác lập trong dòng chảy lịch sử dân tộc.

Đặc biệt, một tư tưởng sâu sắc trong Chiếu dời đô thể hiện qua câu "Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân", nghĩa là một quyết sách lớn của quốc gia phải phù hợp với quy luật vận động của lịch sử, với điều kiện thực tế của đất nước và với lợi ích của nhân dân. Mạch nguồn tư tưởng ấy được nối tiếp tới Nguyễn Trãi (Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân). Đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, tư tưởng lấy dân làm gốc được phát triển thành quan điểm nhất quán thể hiện trong những lời thơ: Dễ trăm lần không dân cũng chịu/Khó vạn lần dân liệu cũng xong.

Trong kỷ nguyên mới, với khát vọng đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045 - dấu mốc 100 năm thành lập nước, những giá trị cốt lõi ấy lại được tiếp tục.

Từ quyết định dời đô năm 1010 đến khát vọng phát triển Việt Nam năm 2045, lịch sử nhắc chúng ta rằng: Khi khát vọng của đất nước hòa quyện với khát vọng của mỗi người dân, doanh nghiệp thì quốc gia chắc chắn sẽ thịnh vượng, bền vững.

Quyết định dời đô năm 1010 của vua Lý Thái Tổ đánh dấu bước ngoặt chuyển dịch chiến lược từ thế phòng thủ sang không gian kiến thiết quốc gia lâu dài. Nếu Hoa Lư thời Đinh và Tiền Lê mang sứ mệnh che chắn một nền độc lập non trẻ nơi non hiểm, thì Đại La lại mở ra địa thế bằng phẳng, cao ráo cùng mạng lưới giao thương đường thủy thuận lợi. Vị vua khai sáng triều Lý đã xác lập kinh đô không phải pháo đài cố thủ ngai vàng, mà là trung tâm quy tụ nhân lực và tạo động lực mở mang cho cả dân tộc. Trải qua hơn một thiên niên kỷ với nhiều biến thiên và tên gọi như Thăng Long, Đông Đô, Đông Quan, Đông Kinh rồi Hà Nội, vùng đất này vẫn giữ vững vị thế trung tâm điều hành đất nước. Ngay cả khi triều Nguyễn đặt kinh đô tại Huế trong 143 năm giai đoạn 1802 - 1945, dòng chảy lịch sử vẫn chứng minh tính đúng đắn và tầm vóc trường tồn của vùng đất trung châu. Lựa chọn Đại La vì thế đã vượt khỏi khuôn khổ một quyết định địa lý thuần túy để trở thành nền móng phát triển xuyên suốt của lịch sử Việt Nam. Tư tưởng cốt lõi "Trên vâng mệnh trời, dưới theo ý dân" trong Chiếu dời đô chính là cội nguồn cho bài học thuận quy luật và hợp lòng dân qua nhiều thời đại. Mạch nguồn tư tưởng lấy dân làm gốc tiếp tục chảy tràn qua tuyên ngôn yên dân của Nguyễn Trãi và quan điểm lãnh đạo nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đây cũng là điểm tựa văn hóa vững chắc nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, hướng tới mốc kỷ niệm 100 năm lập nước vào năm 2045.
amung