
Xây dựng một môi trường xã hội, trong đó mỗi trẻ em đều được chào đón và yêu thương bình đẳng, góp phần duy trì cơ cấu dân số hợp lý và phát triển bền vững - Ảnh: P.Q.
Theo thống kê của Bộ Y tế, hiện cả nước có 15/34 tỉnh, thành có tỉ số giới tính khi sinh vượt ngưỡng 109 bé trai/100 bé gái. Các địa phương này gồm: Hà Nội, Bắc Ninh, Sơn La, Hưng Yên, Phú Thọ, Lạng Sơn, Hải Phòng, Thái Nguyên, Lai Châu, Thanh Hóa, Lào Cai, Ninh Bình, Quảng Ninh, Nghệ An và Điện Biên.
TP.HCM ở mức cân bằng nhưng vẫn lo?
Chị Cao Nữ Huyền (viên chức dân số xã Đồng Lê, tỉnh Quảng Trị) chia sẻ lớn lên trong gia đình có ba chị em gái. Chị nhớ vào năm 2025, khi em gái út chào đời, thứ đón chào em không phải tiếng reo mừng rỡ mà là những lời xì xầm, thở dài.
“Lúc đó, ông nội chỉ đứng ngoài sân, không vào thăm cháu. Hàng xóm đến thăm cũng không ít người hỏi: “Đẻ cả ba cô con gái, sau này ai nối dõi, ai phụng dưỡng tuổi già?”.
Còn mẹ tôi từng nhiều đêm bật khóc khi nghe những lời như “đẻ toàn gái là không có phước”. Cha tôi cũng nhiều lần chịu những lời bàn tán vì không có con trai”, chị Huyền kể lại.
May mắn, cha chị luôn đồng hành với vợ, quan niệm con nào cũng là máu mủ, chỉ mong các con khỏe mạnh, ngoan ngoãn. Gần 20 năm sau, ba cô con gái đều trưởng thành, có công việc, gia đình và trở thành chỗ dựa tinh thần cho cha mẹ.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Phạm Chánh Trung - Chi cục trưởng Chi cục Dân số TP.HCM - cho biết theo Luật Dân số, tỉ số giới tính khi sinh được tính bằng số bé trai sinh ra sống trên 100 bé gái sinh ra sống trong cùng thời kỳ; ngưỡng cân bằng giới tính khi sinh là từ 104 - 106 bé trai trên 100 bé gái.
Riêng tại TP.HCM, theo số liệu công tác dân số năm 2025, tỉ số giới tính khi sinh của thành phố là 106,5 bé trai trên 100 bé gái sinh ra sống, nằm trong ngưỡng cân bằng sinh học. Đây là kết quả tích cực, cho thấy thành phố cơ bản kiểm soát được tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh trong thời gian qua.
"Chúng tôi xác định đây vẫn là vấn đề cần được quan tâm và theo dõi thường xuyên. Bởi mất cân bằng giới tính khi sinh có thể diễn biến âm thầm, chịu tác động của nhiều yếu tố xã hội, đặc biệt là tâm lý mong muốn có con trai và việc lựa chọn giới tính thai nhi.
Nếu không chủ động phòng ngừa, những yếu tố này có thể làm thay đổi tỉ số giới tính khi sinh theo hướng bất lợi trong những năm tiếp theo.
Vì vậy, quan điểm của ngành dân số thành phố là không chủ quan với kết quả hiện tại, mà phải tiếp tục duy trì tỉ số giới tính khi sinh trong ngưỡng cân bằng sinh học, đồng thời tăng cường giám sát, phát hiện sớm những địa bàn có nguy cơ.
Mục tiêu cuối cùng là bảo đảm mọi trẻ em đều được sinh ra, đón nhận và chăm sóc bình đẳng, không bị phân biệt vì giới tính", ông Trung chia sẻ thêm.

Chi cục trưởng Chi cục Dân số TP.HCM Phạm Chánh Trung cho rằng định kiến trọng nam khinh nữ là một trong những nguyên nhân xã hội quan trọng dẫn đến nguy cơ mất cân bằng giới tính khi sinh - Ảnh: XUÂN MAI
Làm sao chấm dứt tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh?
Theo Chi cục trưởng Chi cục Dân số TP.HCM, tâm lý thích có con trai là một trong những nguyên nhân xã hội quan trọng dẫn đến nguy cơ mất cân bằng giới tính khi sinh.
Khi quan niệm phải có con trai để nối dõi tông đường, thờ cúng tổ tiên hoặc coi con trai là chỗ dựa chính của gia đình vẫn còn tồn tại, phụ nữ có thể chịu áp lực phải sinh con trai, nhất là trong những gia đình đã có con gái.
Đáng lo ngại là khi tâm lý này kết hợp với khả năng tiếp cận các kỹ thuật xác định giới tính thai nhi và hành vi lựa chọn giới tính trước sinh, quy luật sinh học tự nhiên có thể bị tác động. Khi đó, vấn đề không chỉ dừng lại ở sự chênh lệch số trẻ trai và trẻ gái được sinh ra, mà còn phản ánh những bất bình đẳng sâu xa hơn về vị thế của phụ nữ và trẻ em gái trong gia đình, cộng đồng.
Nếu mất cân bằng giới tính khi sinh kéo dài, về lâu dài có thể dẫn đến những hệ lụy đối với cơ cấu dân số, quan hệ hôn nhân và gia đình, đồng thời làm gia tăng các vấn đề xã hội liên quan đến bất bình đẳng giới.
"Giải pháp căn cơ nhất vẫn là thay đổi nhận thức từ mỗi gia đình và mỗi người dân. Chúng ta cần khẳng định rằng con trai hay con gái đều có giá trị như nhau; không nên đặt áp lực giới tính lên người phụ nữ, cũng không nên xem việc sinh con trai là điều kiện để khẳng định giá trị của một gia đình.
Khi trẻ em gái được tôn trọng, được trao cơ hội học tập, phát triển và đóng góp bình đẳng như trẻ em trai, định kiến trọng nam khinh nữ mới từng bước được xóa bỏ một cách bền vững.
Đây không chỉ là trách nhiệm của ngành dân số mà cần sự chung tay của cả hệ thống chính trị, các cơ sở y tế, cơ quan báo chí, tổ chức đoàn thể và từng gia đình.
Chúng tôi mong muốn xây dựng một môi trường xã hội trong đó mỗi trẻ em đều được chào đón và yêu thương bình đẳng, góp phần duy trì cơ cấu dân số hợp lý và phát triển bền vững TP.HCM", ông Trung nhấn mạnh.
Trong khi đó, GS.TS Giang Thanh Long, chuyên gia về kinh tế học dân số và chính sách xã hội, nhận định mất cân bằng giới tính khi sinh là một trong những thách thức lớn của Việt Nam trong quá trình phát triển. Đặc biệt, tâm lý ưa thích con trai vẫn tồn tại, trong khi nhu cầu biết trước giới tính thai nhi để lựa chọn giới tính vẫn chưa được loại bỏ.
Ông Long phân tích khi nhu cầu lựa chọn giới tính còn tồn tại, các dịch vụ đáp ứng nhu cầu này có thể chuyển sang hoạt động ngầm, khiến việc phát hiện và xử lý khó khăn hơn. Vì vậy, tăng mức xử phạt là cần thiết nhưng không thể là giải pháp duy nhất.
Việc lựa chọn giới tính thai nhi có thể kéo theo những hệ lụy đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của phụ nữ, nhất là khi dẫn đến phá thai nhiều lần hoặc phá thai không an toàn. Áp lực phải sinh con trai còn có thể gây căng thẳng kéo dài, lo âu và làm gia tăng mâu thuẫn gia đình.
Về lâu dài, mất cân bằng giới tính khi sinh có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt phụ nữ trong độ tuổi kết hôn, kéo theo những hệ lụy xã hội.
Để giải quyết vấn đề, GS.TS Long cho rằng cần tác động vào nguyên nhân gốc rễ là nhận thức của những người có nhu cầu lựa chọn giới tính thai nhi. Bên cạnh hoàn thiện pháp luật, tăng cường kiểm tra và xử lý vi phạm, cần duy trì truyền thông, giáo dục bình đẳng giới một cách liên tục, có trọng tâm.
Các giải pháp cũng cần gắn với chính sách an sinh xã hội, nâng cao vị thế của phụ nữ và trẻ em gái, đồng thời xóa bỏ quan niệm con trai mới có trách nhiệm nối dõi, phụng dưỡng cha mẹ.
“Mất cân bằng giới tính khi sinh không chỉ là vấn đề của ngành y tế hay dân số, mà còn phản ánh những định kiến văn hóa, xã hội kéo dài. Bởi vậy, muốn kiểm soát tình trạng này bền vững, bên cạnh chế tài đủ sức răn đe, điều quan trọng là xây dựng môi trường trong đó trẻ em gái được tôn trọng và có cơ hội phát triển bình đẳng như trẻ em trai”, GS.TS Long chia sẻ.
Về chính sách, Luật Dân số số 113, có hiệu lực từ ngày 1-7-2026, đã xác định giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh là một nội dung quan trọng của công tác dân số.
Điều 15 của Luật quy định việc khuyến khích đưa nội dung không trọng nam hơn nữ, không lựa chọn giới tính khi sinh vào hương ước, quy ước của cộng đồng dân cư; đồng thời quy định biện pháp xử lý đối với hành vi thông báo, tiết lộ giới tính thai nhi để phá thai theo pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh.
Luật cũng yêu cầu căn cứ tình hình mất cân bằng giới tính khi sinh để xây dựng các biện pháp can thiệp phù hợp.
Cùng với đó, Nghị định số 168 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Dân số, tạo cơ sở triển khai đồng bộ chính sách dân số trong giai đoạn mới.
Ước tính ở Việt Nam hơn 40.000 bé gái/năm không thể chào đời
Từ kết quả một nghiên cứu (Chao và CS., 2019) cho thấy Trung Quốc và Việt Nam là 2 nước có tỉ lệ chênh lệch giới tính cao nhất thế giới. Tổng số bé gái "biến mất" từ năm 1970 đến 2017 (khoảng 50 năm) ở Trung Quốc là 11,9 triệu (khoảng 240.000 bé gái/năm).
Con số này ước tính ở Việt Nam là hơn 40.000 bé gái/năm. Ở Việt Nam có thể do các cặp vợ chồng bỏ thai sau khi biết được giới tính thai hoặc đi làm thụ tinh ống nghiệm, loại bỏ các phôi giới tính nữ, chỉ chọn phôi giới tính nam.
Bác sĩ Hồ Mạnh Tường - Tổng thư ký Hội Nội tiết sinh sản và vô sinh TP.HCM - thẳng thắn cho hay nhiều cặp vợ chồng đến trung tâm hỗ trợ sinh sản không phải để điều trị hiếm muộn, mà là để có thể chọn lựa giới tính của phôi. Hoặc khi điều trị hiếm muộn, có chỉ định điều trị thụ tinh trong ống nghiệm, các cặp vợ chồng yêu cầu sàng lọc phôi để chọn lựa giới tính.
Xót xa trước thực trạng nước ta có hơn 40.000 bé gái mất cơ hội chào đời mỗi năm, nhiều bạn đọc cho rằng bé trai hay bé gái đều có quyền được chào đời, yêu thương và phát triển bình đẳng. Tư tưởng trọng nam khinh nữ là cốt lõi vấn đề, cần dần xóa bỏ.