Bỏ qua điều hướng
•

Từ cuộc đua quyền lực trên vũ trụ đến bài toán của Việt Nam: Sở hữu vệ tinh đã đủ tự chủ?

Từ cuộc đua quyền lực trên vũ trụ đến bài toán của Việt Nam: Sở hữu vệ tinh đã đủ tự chủ?
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Châu Âu có tên lửa Ariane, hệ thống định vị Galileo, chương trình quan sát Trái đất Copernicus và năng lực chuyển tiếp dữ liệu bằng laser trên quỹ đạo. Tuy nhiên, khu vực có nền công nghiệp vũ trụ phát triển này vẫn phụ thuộc đáng kể vào Mỹ trong một số dịch vụ liên lạc, hỗ trợ quân sự và khả năng p...

Vũ trụ từ chỗ là biểu tượng của khoa học và uy tín quốc gia đã trở thành một phần hạ tầng thiết yếu của kinh tế và an ninh. Khi liên lạc, định vị, dự báo thiên tai, giám sát biển và nhiều hoạt động quốc phòng ngày càng gắn với tín hiệu từ quỹ đạo, điều quan trọng không chỉ là ai sở hữu thiết bị mà còn là ai có khả năng duy trì, điều phối và quyết định việc tiếp cận dịch vụ.

anh1.jpg
Mối liên hệ giữa các tầng vệ tinh viễn thông, quan sát Trái đất, chuyển tiếp dữ liệu và hạ tầng mặt đất. Đồ họa minh họa, không thể hiện cấu hình của một hệ thống cụ thể.

Nhiều quốc gia có vệ tinh, nhưng quyền lực vẫn tập trung

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đến năm 2025 đã có 109 quốc gia đưa được ít nhất một vệ tinh lên quỹ đạo, trong khi đến giữa năm 2026 chỉ khoảng 12 quốc gia chứng minh được năng lực phóng quỹ đạo độc lập.

Năm 2025, Mỹ thực hiện 55% số lần phóng toàn cầu nhưng chiếm tới 87% số vật thể được đưa lên quỹ đạo; Trung Quốc tương ứng chiếm 28% và 8,4%. Trong hơn 14.000 vệ tinh đang hoạt động cuối năm 2025, các tổ chức Mỹ vận hành khoảng 76%.

Những tỷ lệ này không nói hết chất lượng từng hệ thống, nhưng cho thấy khoảng cách lớn giữa việc có một vệ tinh và khả năng triển khai, bổ sung, duy trì mạng dịch vụ ở quy mô lớn.

Lợi thế của Mỹ không chỉ đến từ công nghệ tên lửa. SpaceX kết hợp phương tiện phóng tái sử dụng, chế tạo vệ tinh hàng loạt và kinh doanh dịch vụ Starlink. Nhu cầu mở rộng mạng lưới tạo ra tần suất phóng cao, còn năng lực phóng hỗ trợ bổ sung, thay thế vệ tinh nhanh hơn.

Quan hệ công nghiệp và thị trường ấy khó sao chép hơn một thiết kế tên lửa riêng lẻ; đồng thời đặt khách hàng trước thực tế nhà cung cấp dịch vụ phóng cũng có thể tham gia cạnh tranh trong thị trường dịch vụ vệ tinh.

Trung Quốc đang phát triển đồng thời năng lực phóng, định vị BeiDou, quan sát Trái đất và các mạng liên lạc mới. Theo cơ quan quản lý vũ trụ nước này, năm 2025 có 92 nhiệm vụ phóng, trong đó 50 lần phóng phục vụ hoạt động vũ trụ thương mại và đưa 311 vệ tinh thương mại lên quỹ đạo. Điều đáng chú ý là mục tiêu xây dựng năng lực công nghiệp và một hệ sinh thái dịch vụ rộng hơn từng chương trình vệ tinh riêng lẻ.

Châu Âu lại cho thấy rõ khoảng cách giữa làm chủ công nghệ tiên tiến và quyền tự chủ chiến lược. Hệ thống EDRS của ESA giúp chuyển tiếp dữ liệu quan sát xuống mặt đất gần thời gian thực, nhưng Liên minh châu Âu vẫn phát triển chùm vệ tinh liên lạc bảo mật IRIS², dự kiến bắt đầu triển khai từ năm 2029.

Nga duy trì năng lực phóng và hệ thống định vị GLONASS, song quy mô phóng năm 2025 và khả năng tiếp cận thị trường quốc tế đã thu hẹp.

Ấn Độ thúc đẩy chuyển giao công nghệ tên lửa nhỏ SSLV cho doanh nghiệp; Nhật Bản đầu tư dài hạn cho công nghiệp vũ trụ, đồng thời vẫn sử dụng dịch vụ phóng nước ngoài cho một số nhiệm vụ.

Những cách tiếp cận khác nhau cho thấy không có một công thức chung để phát triển năng lực vũ trụ quốc gia.

anh.jpg
Sự chênh lệch về năng lực vũ trụ toàn cầu: nhiều quốc gia sở hữu vệ tinh, nhưng năng lực phóng độc lập, triển khai và vận hành các hệ thống vệ tinh quy mô lớn vẫn tập trung ở một số ít quốc gia.

Tự chủ cần được đo bằng khả năng duy trì dịch vụ

Cạnh tranh hiện nay không chỉ là ai chế tạo được vệ tinh hay tên lửa, mà còn là ai bảo đảm liên lạc liên tục với thiết bị trên quỹ đạo, đưa dữ liệu đến người sử dụng đủ nhanh và khôi phục dịch vụ khi xảy ra sự cố.

NASA đã thúc đẩy thử nghiệm dịch vụ chuyển tiếp dữ liệu thương mại thay cho một phần hạ tầng do cơ quan này trực tiếp sở hữu. Nhưng cần phân biệt: truyền dữ liệu gần thời gian thực không có nghĩa một vệ tinh quan sát được một khu vực liên tục; điều đó còn phụ thuộc số lượng vệ tinh, cảm biến và tổ chức khai thác toàn hệ thống.

Quan sát Trái đất là ví dụ gần gũi. Một vệ tinh ảnh có độ phân giải cao vẫn cần gắn với chuỗi nghiệp vụ từ tiếp nhận yêu cầu, lập kế hoạch quan sát, thu nhận, xử lý, kiểm chứng chất lượng đến cung cấp thông tin cho người quyết định.

Trong ứng phó lũ lụt hay giám sát biến động trên biển, thời gian có được thông tin đáng tin cậy đôi khi quan trọng không kém độ phân giải ảnh. Phối hợp ảnh quang học, radar và nguồn dữ liệu đối tác cũng có thể giúp tăng giá trị khai thác của những hệ thống đang có.

Với viễn thông vệ tinh, phép thử là khả năng duy trì kết nối ở vùng xa, trên biển hoặc khi hạ tầng mặt đất gián đoạn. Với dịch vụ định vị, vấn đề là độ tin cậy và tính liên tục của tín hiệu; còn phối hợp tần số, quỹ đạo và giám sát môi trường không gian đòi hỏi những năng lực quản lý, kỹ thuật và hợp tác quốc tế riêng.

Làm chủ vận hành một vệ tinh quan sát không tự động đồng nghĩa làm chủ mạng viễn thông băng rộng, nhưng các năng lực chung về phần mềm, điều khiển, tích hợp, bảo mật, xử lý tín hiệu và vận hành trạm mặt đất có thể được tích lũy, sử dụng lâu dài.

Việt Nam có nền tảng để đi tiếp

Việt Nam đã hình thành những năng lực vũ trụ ở nhiều lĩnh vực. VINASAT-1 và VINASAT-2 tạo nền tảng sở hữu, khai thác thông tin vệ tinh địa tĩnh; VNREDSat-1 mở rộng khả năng tiếp nhận, điều khiển và khai thác dữ liệu quan sát Trái đất.

PicoDragon, MicroDragon và NanoDragon góp phần đào tạo đội ngũ nghiên cứu, thiết kế, tích hợp, thử nghiệm và vận hành vệ tinh nhỏ. LOTUSat-1 đang trong quá trình chuẩn bị cho kế hoạch phóng, hướng tới bổ sung nguồn dữ liệu radar quan sát Trái đất khi được đưa vào khai thác.

anh-9872.jpg
anh-2157.jpg
Một số năng lực đã và đang hình thành của Việt Nam trong viễn thông vệ tinh, vệ tinh quan sát Trái đất.

Đáng chú ý, năng lực quốc gia rộng hơn số vệ tinh được nhắc tên. Tổ hợp Trung tâm Vũ trụ Việt Nam tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc có hạ tầng phục vụ nghiên cứu, tích hợp, thử nghiệm vệ tinh cùng các hệ thống điều khiển và thu nhận dữ liệu.

Bên cạnh đó là mạng trạm mặt đất, hoạt động khí tượng, thông tin liên lạc, ứng dụng viễn thám trong quản lý tài nguyên, nông nghiệp, thiên tai, biển đảo, quốc phòng và an ninh; cùng kinh nghiệm đăng ký và phối hợp tần số, quỹ đạo với quốc tế.

Những kết quả này được hình thành tại các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp và đơn vị sử dụng.

Phát huy đầu tư hiện có, tích lũy công nghệ cho các thế hệ sau

Chiến lược phát triển và ứng dụng khoa học và công nghệ vũ trụ đến năm 2030 theo Quyết định 169/QĐ-TTg bao quát nhiều lĩnh vực hoạt động vũ trụ. Nghị quyết 57-NQ/TW nhấn mạnh công nghệ chiến lược và năng lực tự chủ; các Quyết định 21/2026/QĐ-TTg và 808/QĐ-TTg cụ thể hóa ưu tiên đối với công nghệ hàng không, vũ trụ và sản phẩm vệ tinh quan sát Trái đất.

Việc tiếp tục triển khai đầy đủ các chương trình đã được phê duyệt là nền tảng để duy trì, tích lũy công nghệ, đội ngũ và hạ tầng. Vấn đề đặt ra cho giai đoạn tiếp theo là làm thế nào để kết quả của các chương trình được kết nối và phát huy lâu dài.

Quan sát Trái đất là lĩnh vực có nhu cầu trong nước rõ ràng, phù hợp để tiếp tục phát triển năng lực thiết kế, chế tạo, tích hợp, thử nghiệm, vận hành và cung cấp dữ liệu. Giá trị để lại từ mỗi chương trình không chỉ là một vệ tinh hoạt động mà còn là quy trình kỹ thuật, công cụ thiết kế, khả năng hiệu chuẩn, khắc phục sự cố và một đội ngũ có thể đảm nhận những phần việc phức tạp hơn ở thế hệ sau. Hợp tác, mua công nghệ nước ngoài vẫn cần thiết; điều cốt yếu là những năng lực thực sự được tiếp nhận và duy trì trong nước.

Cùng với việc phát triển hạ tầng theo mục tiêu từng chương trình, có thể nghiên cứu tăng tính kết nối giữa trạm thu, cơ sở dữ liệu, tiêu chuẩn giao diện, hạ tầng xử lý và quản lý tần số.

anh-9388.jpg
anh-4536.jpg
Một số năng lực đã và đang hình thành của Việt Nam trong thiết kế, chế tạo vệ tinh nhỏ và hạ tầng mặt đất.

Kinh nghiệm khai thác vệ tinh viễn thông địa tĩnh và quan sát Trái đất quỹ đạo thấp có những điểm bổ trợ về điều khiển, truyền dữ liệu và vận hành, dù khác nhau về kiến trúc mạng và yêu cầu dịch vụ.

Đó cũng là cơ sở để Việt Nam nghiên cứu các hướng liên lạc vệ tinh thế hệ mới, chuyển tiếp dữ liệu trên quỹ đạo hay phương án tiếp cận dịch vụ phóng trong tương lai, tùy nhu cầu và nguồn lực thực tế, không mặc nhiên coi tự phát triển tất cả hệ thống là đích đến.

Một ngành công nghiệp non trẻ cần thị trường và phối hợp nguồn lực

Hệ sinh thái công nghiệp vũ trụ trong nước đang từng bước hình thành, với sự tham gia rõ nét hơn của doanh nghiệp tư nhân bên cạnh các cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp viễn thông. Đây là cơ hội thu hút đầu tư, xây dựng chuỗi cung ứng và phát triển thị trường công nghệ, dịch vụ.

Tuy nhiên, hạ tầng nghiên cứu, chế tạo, thử nghiệm còn chưa nhiều, nhân lực chuyên sâu còn mỏng, nguồn lực đầu tư có hạn và thị trường trong nước chưa lớn.

Trong những giai đoạn phát triển tiếp theo, thiếu liên kết có thể khiến đầu tư phân tán, đặc biệt đối với hạ tầng chi phí cao, làm giảm khả năng hình thành những năng lực đủ mạnh và có sức cạnh tranh.

Thực tế ấy đặt ra yêu cầu định hướng và điều phối ở tầm quốc gia, xuất phát từ nhu cầu dịch vụ dài hạn và trên cơ sở kế thừa các chương trình, dự án đang triển khai. Việc phát huy thế mạnh của từng tổ chức, tăng khả năng sử dụng chung hạ tầng, liên kết nghiên cứu với chế tạo, vận hành và ứng dụng sẽ giúp nguồn lực bổ trợ cho nhau.

Cùng với tiêu chuẩn kỹ thuật tương thích và nhu cầu đặt hàng đủ ổn định, doanh nghiệp có thêm điều kiện tham gia chuỗi giá trị, phát triển sản phẩm và cạnh tranh bằng chất lượng dịch vụ. Cách tiếp cận đó hỗ trợ các dự án hiện tại phát huy tác động sau khi hoàn thành, đồng thời tạo nền tảng cho công nghiệp vũ trụ phát triển bền vững.

Giữ quyền quyết định, mở rộng hợp tác

Với các dịch vụ quan trọng đối với kinh tế, quốc phòng và an ninh, câu hỏi cần nghiên cứu là những chức năng nào phải được duy trì nếu thị trường hoặc một đối tác gặp biến động. Việt Nam cần trực tiếp kiểm soát khâu nào và có thể có phương án thay thế ra sao. Khả năng tham gia chia sẻ, trao đổi dữ liệu và phối hợp các chùm vệ tinh mở là những hướng hợp tác đáng theo dõi, song cần được cân nhắc theo yêu cầu kỹ thuật, quyền khai thác dữ liệu và lợi ích của các bên. Quyền chủ động không nhất thiết đồng nghĩa với tự thực hiện mọi công đoạn, mà cần được bảo đảm bằng năng lực vận hành, lựa chọn đối tác và duy trì dịch vụ.

Tự chủ vũ trụ không phải lựa chọn giữa tự làm tất cả và mua mọi thứ từ nước ngoài. Đó là khả năng giữ quyền quyết định đối với những dịch vụ quan trọng, sử dụng hiệu quả năng lực đã có, duy trì đội ngũ và tiếp tục phát triển những thế hệ hệ thống sau. Các chương trình đang triển khai là nền tảng của bước đi ấy.

Từ những kết quả đang được tích lũy, điều đáng suy ngẫm là: Việt Nam có thể làm chủ sâu hơn năng lực nào, cần bảo đảm liên tục những dịch vụ nào và làm thế nào để hợp tác quốc tế tiếp tục mở rộng quyền chủ động của quốc gia?

Vũ trụ ngày nay đã chuyển mình từ biểu tượng uy tín quốc gia thành hạ tầng thiết yếu phục vụ trực tiếp cho kinh tế, viễn thông và an ninh chiến lược. Theo thống kê từ OECD, dù 109 quốc gia đã đưa được vệ tinh lên quỹ đạo tính đến năm 2025, chỉ khoảng 12 quốc gia duy trì được năng lực phóng độc lập. Thực tế này phản ánh khoảng cách rất lớn giữa quyền sở hữu thiết bị trên không gian và khả năng tự chủ vận hành hạ tầng ở quy mô lớn. Cục diện quyền lực không gian toàn cầu hiện nay chứng kiến sự áp đảo vượt trội từ các cường quốc công nghệ thông qua hệ sinh thái công nghiệp khép kín. Riêng năm 2025, Mỹ thực hiện 55% số vụ phóng nhưng đưa lên tới 87% tổng số vật thể và các tổ chức của nước này vận hành khoảng 76% trong hơn 14.000 vệ tinh đang hoạt động. Cùng thời điểm, Trung Quốc đẩy mạnh năng lực tự chủ với 92 nhiệm vụ phóng để phát triển mạng lưới thương mại bên cạnh hệ thống định vị BeiDou và năng lực quan sát Trái đất. Bài học từ châu Âu cho thấy việc làm chủ các công nghệ tiên tiến như hệ thống chuyển tiếp dữ liệu EDRS vẫn chưa thể bảo đảm tính độc lập toàn diện, buộc khối này phải thúc đẩy mạng vệ tinh bảo mật IRIS² từ năm 2029. Trong bối cảnh Nga, Ấn Độ và Nhật Bản đều theo đuổi những chiến lược thích ứng riêng, việc sở hữu vệ tinh đơn lẻ không đồng nghĩa với quyền tự chủ bền vững nếu thiếu khả năng duy trì chuỗi cung ứng và dịch vụ phóng. Quản trị không gian hiện đại do đó đòi hỏi một chiến lược tổng thể về năng lực điều phối dịch vụ thay vì chỉ dừng lại ở quyền sở hữu thiết bị trên quỹ đạo.
amung