Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng hiệu quả thực chất của chính sách để hiện thực hóa các kỳ vọng trên sẽ phụ thuộc lớn vào năng lực thực thi và sự phối hợp giữa các cơ quan liên quan. Theo đó, cần có lộ trình phù hợp để hoàn thiện nguồn lực, cơ chế phối hợp liên ngành và các điều kiện bảo đảm thi hành trước khi mở rộng phạm vi quản lý.
Kỳ vọng chính sách càng cao, năng lực thực thi thực tiễn cần kiện toàn
Từ phía cơ quan chủ trì soạn thảo, ThS. Trần Thị Vân Ngọc, Phó Chánh Văn phòng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (QLKCB), Bộ Y tế, đề cập dự thảo tập trung siết chặt khuôn khổ kiểm soát thông qua cấm thuốc lá điện tử (TLĐT), thuốc lá nung nóng (TLNN) và các sản phẩm “thuốc lá khác”; cấm trưng bày tại điểm bán; tăng cường các công cụ hạn chế kênh tiếp cận của thanh thiếu niên.
Theo TS.BS. Dương Huy Lương, Phó Cục trưởng Cục QLKCB, Bộ Y tế, tốc độ phát triển của công nghệ và các sản phẩm mới gia tăng nguy cơ đối với giới trẻ và áp lực lên công tác bảo vệ sức khỏe cộng đồng, qua đó đặt ra yêu cầu sớm hoàn thiện hành lang pháp lý.
Một số đại biểu nhận định mức độ nghiêm ngặt chưa phải yếu tố duy nhất quyết định hiệu quả chính sách, mà còn phụ thuộc vào khả năng thực hiện của toàn bộ hệ thống.
Bà Nguyễn Quỳnh Liên, Đại biểu Quốc hội chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp, nhận định hiệu quả thực thi chính là thước đo của quá trình xây dựng luật. “Dù chính sách có tốt đến đâu nhưng khâu tổ chức thực hiện không hiệu quả thì chính sách đó sẽ trở nên xa rời thực tế và không thể đi vào cuộc sống,” bà Liên nêu quan điểm.
Ở góc độ quản lý thị trường, ông Lê Đình Bình, Kiểm soát viên chính thị trường, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công Thương), trong một tọa đàm khác diễn ra mới đây cho biết hoạt động mua bán các sản phẩm thuốc lá bất hợp pháp trên không gian mạng ngày càng tinh vi. Các giao dịch thường diễn ra trong nhóm kín, sử dụng tài khoản ảo, thông tin không chính chủ và nhanh chóng xóa dấu vết khi có nguy cơ bị phát hiện.
Theo ông Bình, hoạt động giám định hàng hóa vẫn đòi hỏi nhiều thời gian, chi phí trong khi nguồn lực và trang thiết bị phục vụ công tác thực thi còn hạn chế.
Cần lộ trình phù hợp để kiện toàn năng lực thực thi
Thực tiễn, vấn đề năng lực thực thi các cơ quan trước đây cũng đã được cân nhắc trong chính sách của Bộ Y tế. Điều này thể hiện rõ qua đề xuất của Bộ Tư pháp về lệnh cấm mua và sử dụng thuốc lá theo thế hệ dành cho người sinh từ năm 2010.
Theo bà Ngọc, Bộ Y tế đã nghiên cứu, đánh giá tác động và tham khảo kinh nghiệm từ một số quốc gia trên thế giới đối với đề xuất này. Thế nhưng, do những thách thức có thể phát sinh khi triển khai, Bộ Y tế và các thành viên Chính phủ đã cùng thống nhất chưa áp dụng ở thời điểm hiện tại.
Động thái lùi thời hạn triển khai một chính sách có phạm vi tác động rộng phản ánh cơ quan soạn thảo cần thêm thời gian để hoàn thiện cơ sở pháp lý và chuẩn bị nguồn lực thực hiện.
Ở góc độ lập pháp, bà Liên nhấn mạnh, Bộ Y tế - với vai trò bảo vệ sức khỏe - cần phối hợp chặt chẽ với Bộ Công Thương, cơ quan quản lý hoạt động sản xuất, để chuẩn hóa các khái niệm về TLĐT, TLNN, thuốc lá khác và những sản phẩm thuốc lá được phép lưu hành với mục đích nhận diện chính xác đối tượng quản lý và thiết lập cơ chế kiểm soát hiệu quả.
Về mặt kỹ thuật, ông Lê Thành Hưng, Trưởng Phòng Tiêu chuẩn nông nghiệp thực phẩm, Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam thuộc Bộ Khoa học - Công nghệ, nêu quan điểm rằng các khái niệm kỹ thuật càng chính xác, quá trình thực thi càng thuận lợi và nhất quán.
Theo ông, thay vì gộp chung vào một nhóm quản lý, sản phẩm cần được phân loại theo nguyên liệu, cấu phần và cơ chế hoạt động. “Mỗi nội dung khi đưa vào luật chắc chắn cần phải được đánh giá, soi xét một cách thấu đáo để khi ban hành đảm bảo được tính khả thi và tránh thiếu sót,” ông Hưng lưu ý.
Tại một sự kiện do Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam tổ chức ngày 6/8, xoay quanh vấn đề cấm trưng bày, các đại biểu đề xuất cân nhắc giai đoạn chuyển tiếp từ 18 đến 24 tháng sau khi luật được ban hành. Điều này sẽ giúp cơ quan quản lý, lực lượng thực thi và hệ thống bán lẻ có thêm thời gian chuẩn bị đồng bộ.
Từ thực tiễn quản lý, không ít ý kiến cho rằng để đạt mục tiêu bảo vệ sức khỏe cộng đồng, việc nâng cao năng lực thực thi của các cơ quan chức năng là yếu tố quyết định. Tuy nhiên, quá trình này cần thời gian, nhất là khi công tác quản lý ngày càng phức tạp với sự xuất hiện của các sản phẩm như TLĐT và TLNN. Vì vậy, việc sửa luật cần đi đôi với đánh giá đầy đủ các điều kiện bảo đảm thi hành, từ nhận diện sản phẩm, kiểm nghiệm, xử lý vi phạm đến nguồn lực giám sát và phối hợp liên ngành nhằm bảo đảm tính khả thi khi triển khai.