Xuất khẩu tôm hùm gần 900 triệu USD, chỉ tự cung cấp được 10% con giống
Công an tỉnh Khánh Hòa vừa khởi tố hai đối tượng về tội Vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới với mặt hàng bị phát hiện là 4 vali chứa 112 bịch ni lông chứa hơn 180.000 con tôm hùm giống.
Tại sân bay Cam Ranh, số tôm hùm giống trị giá hơn 7 tỷ đồng, không có giấy tờ, kiểm dịch và nguồn gốc hợp pháp đã bị thu giữ và tiêu hủy sau đó. Vụ việc gióng lên hồi chuông về lỗ hổng “chí tử” của ngành nuôi tôm hùm - ngành hàng xuất khẩu triển vọng của thủy hải sản Việt Nam hiện nay: Con giống.
Tôm hùm giống đánh bắt ngoài tự nhiên ở vùng biển miền Trung (Ảnh: DT).
Là sản phẩm hải sản mới phát triển mạnh của Việt Nam trong những năm gần đây, vùng nuôi tôm hùm hiện trải dài từ Quảng Bình đến TPHCM, trong đó Khánh Hòa và Đắk Lắk chiếm hơn 95% tổng số lồng nuôi và sản lượng cả nước.
Năm 2025, xuất khẩu tôm hùm đạt khoảng 858 triệu USD. Chỉ trong 6 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã xuất khẩu 11.790 tấn tôm hùm, thu về khoảng 584,6 triệu USD, tăng hơn 44% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, Trung Quốc chiếm tới khoảng 98,5% kim ngạch, cho thấy mức độ phụ thuộc rất lớn vào một thị trường.
Thế nhưng, ngành tôm hùm lại phải đối mặt với bài toán con giống chưa có lời giải. Theo Cục Thủy sản và Kiểm ngư (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), nhu cầu giống tôm hùm phục vụ nuôi thương phẩm trên cả nước khoảng 100-120 triệu con mỗi năm, trong khi nguồn khai thác tự nhiên trong nước chỉ đáp ứng khoảng 8-12 triệu con, tương đương khoảng 10%.
Tại Khánh Hòa, nơi được xem là “thủ phủ” tôm hùm, nhu cầu lên tới 60-70 triệu con giống/năm nhưng nguồn tự nhiên chỉ đáp ứng khoảng 5%, phần còn lại phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn nhập khẩu. Năm 2025, địa phương này nhập khoảng 33,07 triệu con giống.
Trong khi đó, 6 tháng đầu năm 2026, nguồn giống nhập khẩu chính ngạch sụt giảm mạnh, thậm chí theo báo cáo, chưa có lô tôm hùm giống nhập khẩu chính ngạch phục vụ nuôi thương phẩm.
Ông Nguyễn Hữu Dũng - Tổng thư ký Hội Thủy sản Việt Nam - thông tin Việt Nam chưa làm chủ được công nghệ sản xuất giống nhân tạo tôm hùm. Riêng tôm hùm bông, nguồn giống hiện vẫn phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên. Điều này trở thành nút thắt không chỉ đối với sản xuất mà cả hoạt động xuất khẩu.
Trong khi đó, Indonesia - nguồn cung tôm hùm giống chính cho Việt Nam - đang thay đổi chính sách đối với hoạt động xuất khẩu tôm giống. Theo Quy định KP 7/2024, Indonesia chỉ cho phép xuất khẩu tôm hùm sống trên 50g và yêu cầu doanh nghiệp nước ngoài đầu tư cơ sở ươm giống tại địa phương. Điều này khiến các nhà nhập khẩu tôm hùm giống tại Việt Nam càng khó khăn hơn.
Mua con giống trôi nổi, người nuôi tôm “nắm đằng lưỡi”
Trao đổi với Dân trí sáng 1/9, ông Nguyễn Xuân Hòa - Giám đốc Hợp tác xã Nuôi trồng thủy sản Vạn Ninh (tỉnh Khánh Hòa), cho biết ngành nuôi tôm hùm tại địa phương này đang phát triển mạnh, mang lại giá trị kinh tế cao nhưng nguồn giống khai thác tự nhiên tại địa phương chỉ đáp ứng được khoảng 5% nhu cầu hằng năm, phần còn lại gần như phải trông chờ vào nguồn nhập khẩu.
Tuy nhiên, lượng tôm hùm giống được đưa vào theo đường chính ngạch hiện rất hạn chế. Vì vậy, người nuôi phần lớn phải tìm mua giống trên thị trường tự do, trong đó không ít nguồn không rõ xuất xứ, khó kiểm soát chất lượng. Điều này làm gia tăng nguy cơ dịch bệnh, tỷ lệ hao hụt cao và thậm chí có thể ảnh hưởng đến khả năng tiêu thụ tôm thương phẩm sau này.
Tôm hùm là sản phẩm thủy sản mang lại gần 900 triệu USD trong năm 2025 (Ảnh: Nam Bình).
Theo ông Hòa, đây là nghịch lý tồn tại nhiều năm của ngành tôm hùm. Thương lái gần như “nắm đằng cán” nhiều khâu quan trọng trong chuỗi, từ việc cung cấp tôm giống đến việc tiêu thụ tôm hùm thương phẩm.
Tại Hợp tác xã Nuôi trồng thủy sản Vạn Ninh, khi đầu tư nuôi tôm phải xây dựng cơ bản ban đầu, còn lại, nguồn vốn sử dụng suốt quá trình nuôi đều phải vay ngân hàng, thế chấp tài sản.
“Có những thời điểm nguồn giống khan hiếm, giá tôm hùm con tăng mạnh, áp lực chi phí khiến một số hộ nuôi buộc phải chấp nhận rủi ro, tìm đến các nguồn giống không rõ nguồn gốc để giảm tiền đầu tư ban đầu”, ông Hòa chia sẻ.
Theo đó, giống trôi nổi có thể giúp người nuôi giảm chi phí ở thời điểm đầu vào, thế nhưng, đến khi bán tôm thương phẩm lại “vướng” yêu cầu về nguồn gốc xuất xứ.
Tôm nuôi thương phẩm khi không có đầy đủ giấy tờ chứng minh nguồn gốc nên không thể xuất khẩu theo hướng chính ngạch, người nuôi tôm phải chấp nhận xuất khẩu tiểu ngạch với giá rẻ và nhiều rủi ro khác trong kinh doanh.
Nhiều chuyên gia cũng cho rằng, khi chưa chủ động được con giống đạt chuẩn, người nuôi đối diện nhiều rủi ro khi phải chấp nhận sử dụng nguồn giống trôi nổi, thậm chí là giống nhập lậu.
Vụ hơn 180.000 con tôm hùm giống bị phát hiện tại sân bay Cam Ranh là một ví dụ điển hình. Chỉ với 4 chiếc vali, một lượng giống trị giá hơn 7 tỷ đồng đã được đưa qua biên giới mà không có kiểm dịch, không có chứng từ nguồn gốc.
“Nguy cơ đầu tiên đối với người nuôi là chất lượng con giống không được kiểm soát. Những lô hàng không qua kiểm dịch có thể mang theo mầm bệnh, sức khỏe kém, tỷ lệ sống thấp, khiến người nuôi phải gánh thêm chi phí nhưng không chắc đạt hiệu quả”, ông Hòa phân tích.
Ngoài ra, rủi ro không dừng ở một hộ nuôi, mầm bệnh từ nguồn giống không được kiểm soát có thể phát tán ra vùng nuôi, khiến ngành nuôi tôm hùm của Việt Nam có thể rơi vào khủng hoảng tương tự như các ngành nuôi cá tra, tôm thẻ từng gặp phải trong quá khứ do dịch bệnh và chất lượng giống suy giảm.