Bước chân qua cửa động, không khí bỗng trở nên u tịch, thanh mát lạ kỳ. Dưới vòm núi đá vôi uốn lượn, hơn bốn mươi tấm bia ma nhai hiện ra như những trang sử đá đồ sộ, ngưng đọng thời gian từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XX. Mỗi tấm bia là một khoảng không gian nghệ thuật và tri thức riêng biệt, ghi lại tâm tư của các bậc đế vương, đại thần, danh sĩ qua các thời đại Trần, Lê, Mạc, Nguyễn.
Đứng trước tấm bia khắc bài thơ ngũ ngôn của danh sĩ Phạm Sư Mạnh đời Trần, lòng người không khỏi xao xuyến. Nét chữ khoáng đạt của vị danh thần như vẫn còn phảng phất hơi thở của một thời Đông A hào khí. Cạnh đó là những dòng minh văn, những bài thi khúc ngợi ca cảnh trí, ghi chép việc hưng công trùng tu chùa Dương Nham hay tên tuổi các vị khoa bảng xứ Đông... Tất cả được chạm khắc tỉ mỉ bởi bàn tay tài hoa của người thợ đá năm xưa, trở thành minh chứng sống động cho dòng chảy lịch sử - văn hóa của dân tộc.
Công tác khảo tả và dập bia ma nhai trong lòng hang động đòi hỏi sự kiên trì và kính cẩn tuyệt đối. Trong ánh đèn soi chiếu từng nét đục cánh phượng, nét chữ chân, chữ khải, các thành viên đoàn nghiên cứu cẩn trọng thực hiện từng thao tác. Bước đầu là làm sạch vách đá. Dùng cọ mềm cẩn thận phủi đi lớp bụi thời gian, giữ nguyên trạng từng nét xước nhẹ trên mặt đá. Tiếp đó, nhẹ nhàng trải tấm giấy mỏng ôm sát từng bờ lề, góc bia hay nét chữ chìm nổi trên vách đá gồ ghề, rồi dùng thêu bao thấm mực tàu đập nhẹ nhàng, đều tay lên mặt giấy.
Nhìn những nét chữ Hán, chữ Nôm đen thẫm hoặc đỏ thẫm tùy loại mực dần nổi bật trên nền giấy, cảm giác như những di văn đang hồi sinh dưới đôi bàn tay người trân quý. Mỗi bản dập hoàn thành không chỉ là một tài liệu khoa học chuẩn xác để lưu trữ, phục vụ nghiên cứu và dịch thuật, mà còn là nhịp cầu tri âm nối liền hiện tại với tâm tư, trí tuệ của tiền nhân.
Rời Kính Chủ khi hoàng hôn buông đỏ rực trên dòng Kinh Thầy, trong hành trang mang về là những bản dập bia ngát mùi mực mới. Giữa thế giới hiện đại gấp gáp, chuyến khảo tả của chúng tôi như một khoảng lặng sâu lắng. Nhìn lại từng dòng văn bia khắc vào vách đá, phong hóa bởi thời gian càng thêm thấm thía, các di văn Hán Nôm của cha ông ôm chứa hồn sông núi, là trí tuệ và đạo nghĩa gửi lại đời sau. Giữ gìn và trả lại sức sống cho những "bảo vật trong lòng di tích" ấy chính là cách chúng ta trân trọng và tiếp nối dòng chảy văn hóa dân tộc, đầy kính ngưỡng, tự hào.
KHÚC HỒNG THIỆN