Bỏ qua điều hướng
•

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Chạnh buồn nơi chốn xưa

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Chạnh buồn nơi chốn xưa
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Sau khi được hòa thượng Tử Dung thu nhận và trao công án, thiền sư Liễu Quán vào sơn cốc, dựng am tranh dưới chân Hòn Mô sau lưng núi Ngự Bình để tịnh tu.

Từ đường Ngự Bình (tuyến QL49 qua trung tâm TP.Huế) đến khu di tích quốc gia Núi Bân và tượng đài Quang Trung, gặp ngã ba rẽ vào đường Hoàng Thị Loan rồi chạy dọc vào sau lưng núi Ngự Bình là đến tổ đình Viên Thông (thuộc P.An Cựu). Ngôi chùa ngày nay được bao quanh bởi khu dân cư đông đúc nhưng vẫn giữ dáng vẻ thâm nghiêm, cổ kính.

Giai thoại thiền sư "chạm mặt" Quốc chúa

Theo tư liệu lịch sử, sau khi phụng dưỡng và thọ tang cha, năm 1695, ngài Liễu Quán trở lại Thuận Hóa và thọ Sa di giới tại giới đàn Thiền Lâm do Quốc chúa Nguyễn Phúc Chu tổ chức, hòa thượng Thích Đại Sán làm Đàn đầu truyền giới. Cùng năm, ngài Liễu Quán tìm đến khu vực Hòn Mô (dưới chân núi Ngự Bình) dựng am tranh để tịnh tu.

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Chạnh buồn nơi chốn xưa- Ảnh 1.

Chánh điện chùa Viên Thông hiện nay

Ảnh: Lê Hoài Nhân

Giai thoại kể rằng thời gian này chúa Nguyễn Phúc Chu đang ở ngôi, nghe danh thiền sư Liễu Quán nên nhiều lần đến vãn cảnh với mong muốn diện kiến vị chân tu. Tuy nhiên, lần nào chúa đến, ngài Liễu Quán cũng an nhiên tĩnh tọa trong miếu, không ra cúi chào.

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Chạnh buồn nơi chốn xưa- Ảnh 2.

Hòa thượng Thích Quảng Tú, trú trì tổ đình Viên Thông

Một lần, chúa nổi giận, quyết đi vào miếu chạm mặt thiền sư với ý định trách phạt nhưng khi vừa bước vào đến cửa thì toàn thân đơ cứng. Ngài Liễu Quán thấy vậy liền bảo: "Vương (cách gọi của người xứ Đàng Trong dành cho chúa Nguyễn) lễ Phật đi thì sẽ hết". Quả nhiên, sau khi hành lễ Phật, thân thể chúa Nguyễn Phúc Chu trở lại bình thường. Cảm phục uy đức của bậc chân tu, chúa Nguyễn Phúc Chu chính thức cho trùng tu ngôi miếu thành chùa và ban sắc tứ biển hiệu "Sắc tứ Viên Thông Am".

Chốn thiêng khuất lấp đìu hiu !

Theo tư liệu lịch sử, chùa Viên Thông chính là nơi thiền sư Liễu Quán khởi dựng am tranh đầu tiên để tịnh tu. Sau khi được ấn chứng năm 1722, ngài quay lại chùa phát triển thiền phái, tổ chức giới đàn và nhiều hoạt động Phật sự liên tục diễn ra từ năm 1722 cho đến năm 1742. Thế nhưng, tại chốn thiêng Viên Thông ngày nay, dấu ấn lịch sử khá mờ nhạt.

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Chạnh buồn nơi chốn xưa- Ảnh 3.

Toàn cảnh chùa Viên Thông sau lưng núi Ngự Bình

Ngày nay, qua nhiều lần trùng tu, cải tạo, chùa có lối kiến trúc theo hình chữ "khẩu" truyền thống của nhiều chùa cổ ở Huế với trung tâm là Đại hùng bảo điện. Tuy cột kèo bên trong được kết cấu bằng bê tông cốt sắt nhưng vẫn có những hoa văn và cách trình bày chạm trổ truyền thống. Ba gian giữa là thượng điện thờ Phật và Bồ tát. Trên cao có biển hiệu chùa sơn son thếp vàng với 3 chữ "Viên Thông Tự". Chùa còn giữ được nhiều pho tượng cổ, đặc biệt là bộ tượng Thập bát La Hán bằng gốm do vua Khải Định cúng, mỗi tượng cao 0,33 m.

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Chạnh buồn nơi chốn xưa- Ảnh 4.

Địa điểm Viên Thông Am đã trở thành điện thờ Thánh Mẫu

Trong chùa Viên Thông còn chiếc khánh đá chạm khắc rất đẹp, lạc khoản đề "Minh Mạng thất niên, tứ nguyệt cát nhật, tôn nhơn phủ, Tôn Thất Trạch phụng cúng". Ở phần hậu tổ, trên cao có bức hoành "Vạn Thọ điện", dưới bàn thờ tầng cao nhất chính giữa là long vị tổ khai sơn Liễu Quán, thấp hơn là long vị của các đời cao tăng kế tục, gồm hòa thượng Thị Bình - Diệu Khai (1908 - 1981), hòa thượng Như Thừa...

Hòa thượng Thích Quảng Tú (73 tuổi) hiện là vị trú trì đời thứ 16, nhưng ngài thuộc dòng thiền Chúc Thánh - dòng thiền từ Lâm Tế rẽ nhánh khởi phát từ Hội An (TP.Đà Nẵng) truyền ra Huế sau này. Ngôi chùa rộng lớn với lịch sử hơn 300 năm nhưng hiện tại chỉ có duy nhất một vị sư già, chính là hòa thượng trú trì. "Thầy không có tay nuôi chúng điệu. Nhiều đệ tử nuôi dạy từ 10 - 12 tuổi nhưng cứ đến khoảng 15 - 16 tuổi là bỏ chùa ra về. Giờ chùa chỉ có một mình thầy vừa trú trì vừa làm chúng điệu", hòa thượng Thích Quảng Tú cho hay.

Về nơi phát tích dòng thiền Việt - Liễu Quán: Chạnh buồn nơi chốn xưa- Ảnh 5.

Phóng viên Thanh Niên bên phiến đá cổ tại Viên Thông Am có ghi chữ Hán nhưng đã phai nhòa theo thời gian

Kể về dấu tích Viên Thông Am của thiền sư Liễu Quán, hòa thượng Quảng Tú cho biết đến năm 1932, trong đợt trùng tu do bà Từ Cung (mẹ vua Bảo Đại) cúng dường và cấp kinh phí, thảo am chỉ còn một ít hiện vật, gồm đá tán chân cột và phiến đá làm bia chữ đã phai nhòe không đọc được. Thảo am cũng được cải dựng thành điện Linh tiêu thờ Thánh Mẫu.

Hòa thượng Quảng Tú chỉ cánh cửa ở góc trái dẫn ra sau núi để chúng tôi đến thăm Viên Thông Am, nơi đã trở thành điện Linh tiêu thờ Thánh Mẫu. Ngôi điện nằm dựa lưng vào núi Ngự Bình, rất nhỏ, diện tích xây dựng chừng 15 m2, rêu phong xuống cấp. Bên trong là điện thờ có bát nhang và bài vị Thánh Mẫu. Bên ngoài là vườn chùa cây cối mọc um tùm. Chốn thiêng đã rơi vào cảnh đìu hiu u tịch.

Trước cảnh ấy, chúng tôi chợt nghĩ tại sao không dời điện thờ Thánh Mẫu đến vị trí khác để tôn tạo lại Viên Thông Am cho phật tử thập phương trở về hành hương, vì khuôn viên chùa còn rất rộng. Hòa thượng Thích Quảng Tú trầm tư một lát rồi nói: "Nay tôi đã già, chân bị thoái hóa phải chữa trị đến 4 lần, không còn đi lại được nhiều nên chắc không làm nổi nữa đâu". (còn tiếp)

Nằm khuất lấp phía sau núi Ngự Bình thuộc phường An Cựu, thành phố Huế, tổ đình Viên Thông là nơi phát tích gắn liền với cuộc đời hoằng hóa của thiền sư Liễu Quán. Khởi nguyên từ am tranh dựng năm 1695 tại khu vực Hòn Mô, nơi đây từng ghi dấu ấn lịch sử qua giai thoại cảm hóa chúa Nguyễn Phúc Chu, dẫn đến việc chúa cho trùng tu và ban biển hiệu "Sắc tứ Viên Thông Am". Sau khi được ấn chứng vào năm 1722, ngài Liễu Quán đã chọn chốn này làm trung tâm phát triển thiền phái, liên tục mở giới đàn cùng nhiều Phật sự quan trọng suốt hai thập kỷ. Ngôi chùa ngày nay vẫn giữ bố cục chữ "khẩu" truyền thống cùng hệ thống hiện vật quý giá như bộ tượng Thập bát La Hán bằng gốm do vua Khải Định cúng hay chiếc khánh đá niên đại Minh Mạng thất niên. Dẫu trải qua nhiều đợt trùng tu với kết cấu bê tông cốt sắt thay thế cho vật liệu xưa, không gian thờ tự vẫn bảo lưu được long vị tổ khai sơn Liễu Quán cùng các bậc tiền bối kế tục. Dù vậy, trước áp lực đô thị hóa của khu dân cư bao quanh, dấu tích khởi nguyên của một dòng thiền thuần Việt nay rơi vào cảnh trầm lắng, gợi niềm trăn trở về công tác bảo tồn di sản Phật giáo xứ Huế.
amung