Thời gian qua, cả hệ thống chính trị thành phố đã vào cuộc để phòng chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU). Ý thức và trình độ hiểu biết của ngư dân về bảo vệ môi trường bền vững, pháp luật liên quan đánh bắt thủy sản cũng được nâng lên rõ rệt.
Đến nay đã có nhiều chuyển biến tích cực, như: Không còn tình trạng tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài, các tàu cá đều được lắp đặt thiết bị giám sát hành trình, kiểm soát chặt chẽ tàu cá ra vào cảng... Bên cạnh kiểm soát chặt chẽ việc khai thác hải sản theo các khuyến cáo để gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của Ủy ban châu Âu (EC), thành phố đang hướng đến phát triển ngành thủy sản bền vững.
Đánh bắt hải sản bằng giã cào là nghề truyền thống của đại gia đình ngư dân Nguyễn Văn Mạnh (75 tuổi, ngụ xã Long Hải, Thành phố Hồ Chí Minh). Trước đây, ngoài ông Mạnh còn có anh em, họ hàng của ông cũng từ miền trung vào Long Hải lập nghiệp bằng nghề này.
Thời điểm cao nhất, gia đình ông có gần 10 cặp ghe làm nghề giã cào. Nhưng đến nay chỉ còn một cặp. Lý do gia đình phải bán bớt ghe, giải bản ghe là vì nguồn lợi thủy sản ngày càng cạn kiệt, giá nhiên liệu tăng. Càng về sau, những quy định về đánh bắt hải sản càng chi tiết, cụ thể nên những người đánh bắt theo mô hình cũ khó đáp ứng.
“Ngày nay, con cháu tôi không còn theo nghề truyền thống mà đã chuyển sang ngành nghề khác”, ông Mạnh nói. Trường hợp của ông Nguyễn Văn Mạnh là điển hình về ngư dân chuyển đổi nghề nghiệp trong bối cảnh, tình hình mới.
Xã Long Hải hiện có 1.192 tàu cá đang được quản lý, trong đó có 828 tàu cá khai thác vùng khơi (chiều dài từ 15m trở lên). Đây là xã có nhiều tàu cá nhất của thành phố.
Đến cuối tháng 10/2026, chính quyền xã và các ngành chức năng đã gắn xong thiết bị giám sát hành trình (VMS) cho tất cả các tàu cá trên địa bàn để kiểm soát. Những thiết bị mới gắn cho tàu cá được hỗ trợ theo Nghị quyết số 31 ngày 27/8/2026 của Hội đồng nhân dân thành phố. Cùng với việc duy trì cho các tàu cá còn lại đủ điều kiện để hoạt động, hiện nay chính quyền xã Long Hải cũng đang tích cực triển khai các nghị quyết, quyết định của thành phố.
Ông Nguyễn Minh Tâm, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Long Hải cho biết, việc khẩn trương triển khai lắp đặt thiết bị VMS cho tất cả tàu cá nhằm tạo điều kiện để ngư dân có nhu cầu tiếp tục theo nghề được hành nghề đúng quy định. Đây cũng là quyết tâm của xã trong tăng cường quản lý hoạt động khai thác thủy sản, thực hiện nghiêm các quy định về chống khai thác IUU, góp phần cùng thành phố và cả nước gỡ cảnh báo “thẻ vàng” của EC đối với ngành thủy sản Việt Nam.
Bên cạnh việc hỗ trợ tiền mua VMS, thành phố cũng có chính sách hỗ trợ để ngư dân chuyển đổi nghề nghiệp. Theo Nghị quyết số 30/2026/NQ-HĐND ngày 27/8/2026 của Hội đồng nhân dân thành phố, mỗi tàu cá giải bản sẽ được ngân sách hỗ trợ từ 50 triệu đồng đến 250 triệu đồng (tùy chiều dài). Ngoài ra, chủ tàu cá và thuyền viên cũng được hỗ trợ học phí học nghề với mức 8,5 triệu đồng/người.
Một số ngư dân cho biết, họ đang gặp khó khăn trong việc hoàn thành hồ sơ, thủ tục để được nhận tiền hỗ trợ giải bản tàu cá và học nghề theo nghị quyết. Để nhận được khoản hỗ trợ này, ngư dân phải có biên bản xác định đã giải bản tàu cá và chuyển sang nghề khác rồi mới đăng ký, nộp hồ sơ cho chính quyền xã.
Thời gian qua, chính quyền các địa phương và ngành chức năng đã tập trung giải đáp các thắc mắc, vướng mắc khi thực hiện việc hỗ trợ giải bản tàu cá cho ngư dân không còn nhu cầu theo nghề đánh bắt, để họ làm đúng đối tượng, đúng quy định và đáp ứng các yêu cầu về hồ sơ, thủ tục.
Bà Mạc Thị Nga, Chi cục trưởng Thủy sản Thành phố Hồ Chí Minh cho biết, đơn vị này đã nhận được hồ sơ xin hỗ trợ của một số xã, với số lượng vài hồ sơ. Tuy nhiên, chi cục yêu cầu tập hợp 10 hoặc 20 hồ sơ rồi trình một lần. Do đó, việc hỗ trợ ngư dân giải bản tàu cá, học nghề chậm hơn so với hỗ trợ lắp đặt thiết bị VMS.
Ông Trần Văn Dũng, Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Chế biến xuất nhập khẩu Thủy sản Bà Rịa-Vũng Tàu (Baseafood) cho biết, trước đây, giá trị của thủy sản Việt Nam xuất khẩu vào châu Âu chiếm khoảng 30-40% tổng giá trị xuất khẩu của ngành thủy sản Việt Nam ra thế giới (năm 2026, ngành thủy sản Việt Nam phấn đấu kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt 12 tỷ USD).
Do đó, nếu thủy sản Việt Nam xuất khẩu thuận lợi hơn vào thị trường này sau khi gỡ “thẻ vàng”, sẽ tạo thêm ngoại tệ cho quốc gia, đơn hàng cho doanh nghiệp, công việc cho người lao động. Điều này giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn trong xuất khẩu thủy sản, bởi tiêu chuẩn hàng hóa vào châu Âu cao và khắt khe hơn các thị trường khác.
“Để có ngành thủy sản phát triển bền vững, cần rốt ráo thực hiện từ ngư dân - người trực tiếp tạo ra sản phẩm và doanh nghiệp chế biến thủy sản. Ngoài những chính sách vừa qua, cần nhanh chóng tạo điều kiện thuận lợi để chuyển đổi nghề cho ngư dân, trong đó thuận tiện nhất là nghề nuôi trồng thủy sản. Đối với doanh nghiệp chế biến, Nhà nước cần cho phép, khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp tích cực chuyển đổi mặt hàng thay thế bằng sản phẩm nuôi, nhập khẩu, liên doanh khai thác từ nước ngoài và miễn giảm thuế”, ông Dũng nói.
Phát triển ngành thủy sản bền vững giúp ngư dân có sinh kế lâu dài, nguồn lợi thủy sản được khôi phục sau nhiều năm bị khai thác cạn kiệt, hàng hóa Việt Nam có uy tín trên thị trường quốc tế và tạo giá trị cho doanh nghiệp. Thực tế, địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều điều kiện để phát triển ngành này nhờ bờ biển dài, nhiều dòng sông, cửa biển. Hiện Ủy ban nhân dân thành phố đã giao Sở Nông nghiệp và Môi trường xây dựng đề án phát triển ngành nuôi trồng thủy sản.
Bài và ảnh: LÊ ĐÌNH THÌN