Trong bối cảnh robot và trí tuệ nhân tạo (AI) ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cạnh tranh công nghiệp toàn cầu, Việt Nam đang đứng trước cơ hội phát triển ngành robot theo hướng từng bước làm chủ công nghệ, thay vì chỉ nhập khẩu và sử dụng thiết bị.
Tiến sỹ Nguyễn Đình Vĩnh Thanh, nhà nghiên cứu tại Trung tâm Nghiên cứu Khoa học Quốc gia Pháp (CNRS), đưa ra nhận định này trong cuộc trao đổi với phóng viên TTXVN tại Paris.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Đình Vĩnh Thanh, Pháp và Liên minh châu Âu (EU) đang đẩy mạnh phát triển công nghệ robot nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh công nghiệp và tăng cường tự chủ chiến lược.
Robot và máy thông minh là lĩnh vực ưu tiên trong kế hoạch đầu tư France 2030, đồng thời được EU chú trọng trong chiến lược phát triển công nghiệp.
Thế mạnh của châu Âu nằm ở nền tảng nghiên cứu, kinh nghiệm tự động hóa và sự liên kết giữa viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp.
Chương trình hợp tác công-tư SPARC giai đoạn 2014-2020 được Ủy ban châu Âu hỗ trợ 700 triệu euro (782 triệu USD), cùng cam kết đóng góp gấp 3 lần từ doanh nghiệp.
Tại Pháp, France 2030 dành 34 triệu euro cho nghiên cứu robot trong 8 năm và hỗ trợ 20 dự án robot, máy thông minh trong năm 2024.
Châu Âu đóng góp khoảng 20% công trình nghiên cứu robot toàn cầu giai đoạn 2019-2024, đồng thời có những nhà sản xuất lớn như KUKA của Đức, ABB của Thụy Sĩ và Universal Robots của Đan Mạch. Tuy nhiên, khả năng thương mại hóa kết quả nghiên cứu vẫn còn hạn chế.
Trong lĩnh vực robot hình người và AI dành cho robot, châu Âu chú trọng công nghệ mở, ứng dụng công nghiệp và an toàn. Neura Robotics của Đức đang thu hút đầu tư phát triển robot hình người, trong khi thư viện mã nguồn mở LeRobot của Hugging Face hỗ trợ các nhóm nghiên cứu tiếp cận công nghệ.
EU cũng phát triển mạng lưới cơ sở thử nghiệm AI (TEF) và ban hành Quy định Máy móc mới, áp dụng từ tháng 1/2027, nhằm tăng cường kiểm thử và bảo đảm an toàn.
Tiến sỹ Nguyễn Đình Vĩnh Thanh đánh giá rằng trong khi Mỹ mạnh về mô hình AI và nguồn vốn, Trung Quốc có lợi thế về quy mô sản xuất phần cứng, Pháp và EU nổi bật về chiều sâu nghiên cứu, kinh nghiệm tự động hóa, hệ sinh thái mở cùng các tiêu chuẩn an toàn và kiểm thử chặt chẽ. Đây là cơ sở để Pháp và EU trở thành đối tác phù hợp của Việt Nam trong nghiên cứu, tích hợp robot, kiểm thử và đào tạo, bổ sung cho nguồn cung thiết bị và công nghệ từ các nước khác.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Đình Vĩnh Thanh, Việt Nam đã có những điều kiện ban đầu để phát triển ngành robot. Nghị quyết 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là đột phá quan trọng hàng đầu.
Quyết định 21/2026/QĐ-TTg đưa robot và tự động hóa vào danh mục công nghệ chiến lược, trong khi Luật AI, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026, bổ sung khuôn khổ pháp lý cho lĩnh vực này.
Nhà nghiên cứu robot này cho rằng hợp tác với Pháp và EU cần tập trung vào 3 hướng: đánh giá nhu cầu, năng lực trong nước và chọn bài toán thí điểm, làm nền cho cả nghiên cứu lẫn công nghiệp; xây dựng hợp tác nghiên cứu theo mô hình của CNRS và triển khai từng bước; hợp tác công nghiệp để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị robot và đón đầu xu hướng robot hình người, AI.
Một đề xuất quan trọng của Tiến sỹ Nguyễn Đình Vĩnh Thanh là vận dụng các cơ chế hợp tác quốc tế của CNRS, gồm Dự án nghiên cứu quốc tế (IRP), thường kéo dài khoảng 5 năm, và Phòng thí nghiệm nghiên cứu quốc tế (IRL), với chương trình, nhân sự và hạ tầng nghiên cứu chung.
Những mô hình này đã được triển khai tại châu Á. CNRS hợp tác với Viện Khoa học và Công nghệ công nghiệp tiên tiến quốc gia Nhật Bản (AIST) xây dựng Phòng thí nghiệm Robot chung tại Tsukuba.
Tại Singapore, chương trình DesCartes kết nối các nhóm nghiên cứu, doanh nghiệp và nguồn tài trợ quốc gia để giải quyết những vấn đề đô thị. Với Việt Nam, CNRS đã có các chương trình hợp tác về toán học, sản xuất hydro và nghiên cứu hệ gene thực vật, nhưng chưa có cơ chế tương tự dành riêng cho robot.
Trên cơ sở đó, Tiến sỹ Nguyễn Đình Vĩnh Thanh đề xuất lộ trình 4 bước, thay vì thành lập ngay một trung tâm nghiên cứu quy mô lớn. Bước đầu là đánh giá nhu cầu và lựa chọn một hoặc hai bài toán ứng dụng.
Tiếp đó, hai bên có thể xây dựng dự án nghiên cứu theo mô hình IRP, kết hợp thế mạnh của Pháp về điều khiển robot, lập kế hoạch chuyển động với các mô hình AI mã nguồn mở được điều chỉnh bằng dữ liệu tại Việt Nam, đồng thời tổ chức đào tạo nghiên cứu sinh chung.
Bước thứ ba là xây dựng hạ tầng thử nghiệm dùng chung, nơi các nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp kiểm chứng robot trong điều kiện thực tế.
Khu Công nghệ cao Hòa Lạc được xem là địa điểm phù hợp nhờ sự hiện diện của Trung tâm Đổi mới sáng tạo Quốc gia (NIC) và các hoạt động thử nghiệm công nghệ tự hành.
Bước cuối cùng là thành lập phòng thí nghiệm chung theo mô hình IRL khi đã có kết quả nghiên cứu, đội ngũ nhân lực và cam kết tài chính từ hai phía.
Một IRL về robot đặt tại Hòa Lạc, cạnh hạ tầng thử nghiệm, sẽ là đầu mối nghiên cứu, đào tạo nhân lực trình độ cao và chuyển giao kết quả cho doanh nghiệp trong nước.
Bên cạnh nghiên cứu, Tiến sỹ Nguyễn Đình Vĩnh Thanh nhấn mạnh vai trò của hợp tác công nghiệp. Chuyên gia đề xuất 3 hướng hợp tác với Pháp và EU.
Thứ nhất là phát triển năng lực tích hợp robot và dịch vụ kỹ thuật. Các trường đại học, doanh nghiệp Việt Nam có thể phối hợp với nhà sản xuất châu Âu đào tạo kỹ sư, xây dựng hệ thống chứng nhận chuyên môn và mạng lưới bảo trì tại chỗ. Qua đó, doanh nghiệp trong nước từng bước đảm nhiệm việc lắp đặt, vận hành và nâng cấp dây chuyền tự động hóa.
Hướng thứ hai là linh kiện và chuỗi cung ứng. Với kinh nghiệm sản xuất chính xác trong ngành điện tử, doanh nghiệp Việt Nam có thể cung cấp các bộ phận như khung kết cấu, mô-đun truyền động, bo mạch điều khiển hay điện tử công suất cho robot, đồng thời hợp tác với các tập đoàn linh kiện châu Âu đang mở rộng sang robot thế hệ mới. Thỏa thuận lập trung tâm năng lực chung giữa VinRobotics và tập đoàn bán dẫn Đức Infineon là một bước đi theo hướng này.
Hướng thứ ba là đón đầu robot hình người và AI. Robot hình người hiện mới ở mức thí điểm và cần được kiểm chứng trong nhà máy thực trước khi sản xuất hàng loạt.
Với mật độ nhà máy lớn và các doanh nghiệp như VinRobotics, VinMotion đã có nguyên mẫu, Việt Nam có thể trở thành nơi thử nghiệm và thu thập dữ liệu vận hành trong các dự án chung với đối tác châu Âu, đồng thời tận dụng các mô hình AI và công cụ mã nguồn mở để tự phát triển ứng dụng, không phụ thuộc vào một nhà cung cấp duy nhất.
Hạ tầng thử nghiệm dùng chung ở bước 3 cũng có thể đảm nhận kiểm định theo tiêu chuẩn an toàn của EU, như Quy định Máy móc mới, giúp sản phẩm robot Việt Nam chuẩn bị ngay từ đầu cho thị trường châu Âu.
Theo Tiến sỹ Nguyễn Đình Vĩnh Thanh, ở cả hợp tác nghiên cứu lẫn công nghiệp, vai trò các bên cần được phân định rõ: doanh nghiệp sử dụng cung cấp bài toán, dữ liệu và môi trường thử nghiệm; doanh nghiệp công nghệ phát triển sản phẩm, tích hợp và dịch vụ; trường, viện đảm nhiệm nghiên cứu, kiểm thử và đào tạo; Nhà nước hỗ trợ nghiên cứu dài hạn, nhân lực và hạ tầng dùng chung; đối tác Pháp/EU bổ sung chuyên môn.
Các thỏa thuận phải xác định quyền sở hữu trí tuệ, sử dụng dữ liệu, khai thác kết quả và trách nhiệm bảo trì, để phía Việt Nam làm chủ được dữ liệu và kết quả.
Hiệp định hợp tác khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo Pháp-Việt ký ngày 26/5/2025 là khuôn khổ thể chế phù hợp để triển khai. Về kinh phí, hợp tác có thể kết hợp các quỹ khoa học, công nghệ trong nước, các chương trình song phương Việt-Pháp, các chương trình khung của EU như Horizon Europe, nơi tổ chức của Việt Nam đủ điều kiện nhận tài trợ khi tham gia liên danh nghiên cứu, cùng phần đóng góp của doanh nghiệp./.
(TTXVN/Vietnam+)