Dự thảo Đề án phát triển du lịch y tế giai đoạn 2026-2030 đang được Bộ Y tế đưa ra lấy ý kiến. Trong đó, Việt Nam đặt mục tiêu phấn đấu đến năm 2030 đón khoảng 750.000 lượt khách du lịch y tế quốc tế, doanh thu trực tiếp khoảng 1 tỷ USD và trở thành điểm đến có sức cạnh tranh trong khu vực Đông Nam Á.
Theo thống kê sơ bộ, Việt Nam hiện đón khoảng 300.000 lượt khách quốc tế sử dụng dịch vụ y tế mỗi năm.
Báo Dân trí phỏng vấn Tiến sĩ - Bác sĩ Hà Anh Đức, Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) xung quanh dự thảo đề án này.
Du lịch y tế Việt Nam hướng tới doanh thu 1 tỷ USD
Với thời gian thực hiện chỉ còn 4 năm, theo ông, những mục tiêu đặt ra có quá tham vọng?
- Bộ Y tế xác định giai đoạn đến năm 2030 là thời điểm thuận lợi để du lịch y tế Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, dựa trên những yếu tố chính sau.
Về chính sách, Nghị quyết 72-NQ/TW ngày 9/9/2025 định hướng phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu chất lượng cao ngang tầm khu vực và quốc tế, gắn với thu hút, phát triển du lịch chữa bệnh tại Việt Nam.



Về thị trường, du lịch y tế đang là một trong những lĩnh vực tăng trưởng nhanh trên thế giới. Nhiều tổ chức quốc tế dự báo quy mô thị trường du lịch y tế toàn cầu có thể đạt khoảng 250-300 tỷ USD vào năm 2030, trong đó khu vực châu Á - Thái Bình Dương giữ vai trò động lực tăng trưởng chính. Nếu không tận dụng tốt giai đoạn hiện nay, Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội tham gia vào một thị trường có giá trị gia tăng rất cao.
Để đạt khoảng 750.000 lượt vào năm 2030, mức tăng cần duy trì là khoảng 25% mỗi năm. Đây là tốc độ mà các quốc gia đi trước đã đạt được trong giai đoạn tăng tốc về phát triển du lịch y tế. Chẳng hạn, Hàn Quốc duy trì mức tăng người bệnh quốc tế bình quân 23,5%/năm trong hơn một thập kỷ sau khi ban hành đồng bộ hệ thống chính sách về du lịch y tế.
Về năng lực trong nước, hệ thống y tế Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc. Nhiều kỹ thuật chuyên sâu như ghép tạng, phẫu thuật robot, hỗ trợ sinh sản, can thiệp tim mạch đã đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Cả nước đã có 13 bệnh viện đạt chứng nhận JCI và 3 bệnh viện đạt chứng nhận ACHS. Hệ thống hạ tầng du lịch, giao thông, lưu trú và chuyển đổi số ngày càng hoàn thiện, tạo nền tảng thuận lợi để hình thành các sản phẩm du lịch y tế chất lượng cao.
Đây là những mục tiêu tham vọng nhưng có cơ sở, với điều kiện các giải pháp về thể chế, chất lượng dịch vụ, nhân lực, xúc tiến và liên kết chuỗi được triển khai đồng bộ.
So với các quốc gia đang phát triển mạnh về du lịch y tế như Thái Lan, Singapore, Malaysia, Việt Nam đang có những lợi thế và hạn chế gì? Đâu là những vấn đề lớn nhất cần tháo gỡ để chúng ta có thể cạnh tranh và đạt mục tiêu đến năm 2030?
- Các quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Singapore và Malaysia đã có từ 15 đến 20 năm kinh nghiệm phát triển du lịch y tế, có cơ quan điều phối chuyên trách, thương hiệu quốc gia thống nhất, cơ chế thị thực y tế đặc thù và mạng lưới cơ sở được quốc tế công nhận với số lượng lớn. Đây là khoảng cách thực tế mà chúng tôi đã phân tích trong quá trình xây dựng dự thảo đề án.
Trong tương quan đó, Việt Nam có những lợi thế riêng. Chúng tôi cho rằng lợi thế cạnh tranh bền vững nhất của Việt Nam không phải là giá rẻ mà là khả năng cung cấp dịch vụ y tế chất lượng ngày càng tiệm cận quốc tế với chi phí hợp lý hơn.

Nguyên tắc xuyên suốt là không để việc phục vụ người bệnh quốc tế làm giảm khả năng tiếp cận, chất lượng và quyền lợi khám chữa bệnh của người dân trong nước.
Quan trọng hơn nữa, Việt Nam có sự ổn định chính trị cao, là điểm đến an toàn, thân thiện và giàu bản sắc văn hóa. Đây sẽ là nền tảng để xây dựng thương hiệu quốc gia về du lịch y tế trong dài hạn.
Bên cạnh đó, Việt Nam sở hữu một giá trị khác biệt mà ít quốc gia nào có thể sao chép, đó là sự kết hợp giữa y học hiện đại và y học cổ truyền, giữa điều trị và nghỉ dưỡng, phục hồi sức khỏe và trải nghiệm văn hóa bản địa.
Khi kết hợp với cảnh quan thiên nhiên, hệ thống lưu trú chất lượng cao và môi trường xã hội ổn định, Việt Nam hoàn toàn có thể hình thành những sản phẩm du lịch y tế đặc sắc, mang thương hiệu riêng.
Để phát triển du lịch y tế, có 3 vấn đề lớn cần tập trung tháo gỡ. Về thể chế, Việt Nam chưa có cơ chế thị thực y tế, cơ chế giá dịch vụ theo yêu cầu và thanh toán với bảo hiểm quốc tế chưa hoàn thiện. Về chất lượng, số cơ sở đạt chứng nhận quốc tế còn khiêm tốn. Về liên kết chuỗi, các sản phẩm còn nhỏ lẻ, dịch vụ y tế chưa được gắn kết chặt chẽ với du lịch, lưu trú, nghỉ dưỡng.
Những vấn đề trên cũng chính là các nhóm giải pháp trọng tâm đã được thể hiện thành từng nhiệm vụ cụ thể trong dự thảo đề án.



Là quốc gia đi sau, chúng ta có điều kiện để tham khảo, chọn lọc kinh nghiệm thành công cũng như những bài học của Thái Lan, Singapore để xác định chiến lược phù hợp với điều kiện thực tiễn của Việt Nam.
Tập trung vào những dịch vụ y tế có thế mạnh
Để đạt mục tiêu thu hút khách du lịch y tế như dự thảo đề án đề ra, Việt Nam sẽ tập trung phát triển những nhóm dịch vụ y tế nào có thế mạnh và khả năng cạnh tranh quốc tế?
- Dự thảo đề án lựa chọn phát triển sản phẩm từ những lĩnh vực Việt Nam có thế mạnh thực tế và khả năng cạnh tranh quốc tế.
Các gói dịch vụ du lịch y tế chuẩn hóa được định hướng theo bốn nhóm chính: Khám sức khỏe và tầm soát chất lượng cao; chuyên khoa có lợi thế cạnh tranh như nha khoa, hỗ trợ sinh sản, thẩm mỹ, tim mạch, ung bướu và các kỹ thuật chuyên sâu; y học cổ truyền kết hợp nghỉ dưỡng sinh thái và trị liệu và chăm sóc, điều dưỡng và phục hồi chức năng dài ngày cho người cao tuổi, hướng tới các thị trường Đông Bắc Á.
Đây đều là những nhóm dịch vụ mà khách quốc tế đã biết đến và lựa chọn Việt Nam trong những năm qua.
Đề án định hướng tổ chức các khu vực, trung tâm và quy trình cung ứng dịch vụ phù hợp cho khách quốc tế, đồng thời huy động mạnh hơn nguồn lực của khu vực tư nhân và xã hội hóa.
Theo định hướng của dự thảo đề án, khách du lịch y tế được phục vụ chủ yếu thông qua các trung tâm dịch vụ tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế tại các bệnh viện đủ điều kiện, kết hợp lợi thế về cơ sở vật chất của y tế tư nhân với trình độ chuyên môn của y tế công lập. Đây vừa là thách thức vừa là cơ hội bởi các bệnh viện công đang nắm giữ phần lớn năng lực chuyên môn kỹ thuật cao của cả nước.
Quan điểm nhất quán của dự thảo là việc tham gia cung ứng dịch vụ du lịch y tế không được làm ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ và khả năng tiếp cận của người bệnh trong nước. Mục tiêu sau cùng vẫn là nâng cao chất lượng hệ thống y tế trong nước theo các tiêu chuẩn quốc tế, để người dân Việt Nam được thụ hưởng dịch vụ chất lượng cao ngay tại quê hương.
Việt Nam - điểm đến chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, an toàn
Trong 4 năm tới, những giải pháp và lĩnh vực nào cần được ưu tiên để biến chỉ tiêu về khách du lịch y tế và doanh thu nêu trong dự thảo đề án thành kết quả thực tế?
- Trong thời gian tới, chúng tôi xác định một số nhóm ưu tiên lớn sau:
Thứ nhất là ưu tiên hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, trong đó tập trung vào thị thực y tế, giá dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu, thanh toán với bảo hiểm quốc tế, cùng bộ tiêu chuẩn và cơ chế công nhận cơ sở tham gia mạng lưới du lịch y tế.


Thứ hai là đầu tư nâng cao chất lượng chuyên môn và phát triển nguồn nhân lực. Dự thảo đề xuất hỗ trợ các bệnh viện có lợi thế cạnh tranh đạt và duy trì chứng nhận chất lượng quốc tế, trong đó chú trọng khu vực công lập; phát triển các trung tâm y tế chuyên sâu chất lượng cao, khu phức hợp y tế đẳng cấp quốc tế; đồng thời phát triển nguồn nhân lực phục vụ khách quốc tế theo các định hướng đã nêu.
Thứ ba là triển khai các mô hình thí điểm tại các địa bàn trọng điểm trước khi nhân rộng. Đề án định hướng hình thành các mô hình du lịch y tế tích hợp tại những địa phương có điều kiện thuận lợi như Hà Nội, TPHCM và Đà Nẵng.
Mục tiêu là hình thành tại mỗi địa bàn một chuỗi dịch vụ hoàn chỉnh cho người bệnh trong suốt quá trình khám, chữa bệnh và nghỉ dưỡng tại Việt Nam. Chúng tôi kỳ vọng mỗi địa phương sẽ hình thành những sản phẩm du lịch y tế mang bản sắc riêng, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam trên thị trường khu vực.
Thứ tư là xây dựng thương hiệu quốc gia gắn với chuyển đổi số, thông qua chiến lược truyền thông quốc gia đa ngôn ngữ, kết hợp nền tảng số, các hoạt động xúc tiến đầu tư, xúc tiến du lịch và mạng lưới cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài. Cổng thông tin và Cơ sở dữ liệu quốc gia về du lịch y tế cũng sẽ được vận hành để công tác điều hành, đánh giá dựa trên số liệu đầy đủ, thống nhất.

Việt Nam không định hướng cạnh tranh bằng việc hạ thấp chi phí bằng mọi giá, mà cạnh tranh bằng chất lượng chuyên môn, chi phí hợp lý, trải nghiệm người bệnh, tính an toàn, minh bạch và sự khác biệt của sản phẩm.
Thứ năm là phát triển hệ sinh thái và chuỗi cung ứng du lịch y tế, tăng cường liên kết giữa cơ sở y tế với doanh nghiệp du lịch, hàng không, lưu trú, bảo hiểm, ngân hàng và công nghệ; đồng thời xây dựng sản phẩm phù hợp từng thị trường mục tiêu.
Đáng chú ý, Bộ Y tế đang phối hợp với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu thành lập Hiệp hội Du lịch y tế Việt Nam, nhằm kết nối các cơ sở y tế với doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng và tạo động lực phát triển lĩnh vực này.
Chúng tôi tin rằng thương hiệu quốc gia về du lịch y tế chỉ thực sự được khẳng định khi chất lượng dịch vụ thực tế tương xứng với những giá trị đã cam kết. Vì vậy, đề án tập trung nâng cao chất lượng, an toàn và hiệu quả dịch vụ y tế, lấy người bệnh làm trung tâm, đồng thời từng bước chuẩn hóa theo các tiêu chuẩn quốc tế.
Phát triển du lịch y tế không chỉ nhằm thu hút khách quốc tế hay tăng doanh thu, mà còn tạo động lực nâng cao chất lượng hệ thống y tế, chuẩn hóa dịch vụ, phát triển nhân lực và thu hút nguồn lực xã hội.
Thành công của đề án cuối cùng phải được đo bằng chất lượng và an toàn dịch vụ, sự hài lòng, niềm tin của người bệnh và năng lực cạnh tranh của hệ thống y tế Việt Nam, qua đó từng bước xây dựng thương hiệu “Việt Nam - điểm đến chăm sóc sức khỏe chất lượng cao, an toàn, nhân văn và đáng tin cậy”.
Xin chân thành cảm ơn ông!