Sau khi đã nhận được một số xe tăng T-34 và xe tăng bơi nước PT-76 trong thời điểm 1959 - 1961, sang đầu năm 1962, Trung đoàn xe tăng 202 Bộ Quốc phòng (nay là Lữ đoàn xe tăng 202, Binh chủng Tăng thiết giáp) được nhận trang bị mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm (nay là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) thăm Lữ đoàn xe tăng 201, Binh chủng Tăng thiết giáp, tháng 4.2025
ẢNH: TUẤN HUY
Ngày 26.2.1962, số trang bị này về đến Việt Nam. Ngoài 5 xe đảm bảo (xe dắt T-34, MTY-10), có thêm 19 xe tăng bơi nước PT-76 và 11 xe tăng T-54.

Xe tăng T-54 huấn luyện vượt địa hình phức tạp, năm 1964
ẢNH: BCTTG
"T-54 hơn hẳn T-34 bởi nhiều lẽ: sản xuất sau; pháo rãnh xoắn 100 mm uy lực hơn; giáp chống đạn hiệu quả gấp 2 - 3 lần; tháp pháo đúc dạng hình bán cầu, vòm dẹt giúp tăng khả năng đỡ đạn; trong lượng nặng hơn; kíp lái chỉ 4 người; động cơ diesel V-54 tốc độ tối đa khoảng 50 km/giờ", đại tá Nguyễn Khắc Nguyệt, nguyên Trưởng ban Khoa học công nghệ, Trường Sĩ quan Tăng thiết giáp - liệt kê vậy, và kể: "Hiện đại hơn hẳn, nên phải chọn lựa kíp lái rất chặt chẽ".

Xe tăng thiết giáp của Quân đội nhân dân Việt Nam
ẢNH: BCTTG
Cùng với 11 xe tăng T-54 đầu tiên, phía Liên Xô cũng cử đoàn chuyên gia sang Việt Nam huấn luyện cho bộ đội xe tăng trong 6 tháng liên tục. Ngoài kiến thức chung như cấu tạo, cách sử dụng, bảo quản, bảo dưỡng…, phía Liên Xô còn tổ chức các lớp học chuyên ngành T-54 và huấn luyện chỉ huy tham mưu, tác chiến.
Mặc dù việc nhận xe tăng T-54 lúc đó được bảo mật hết mức, nhưng người ta vẫn xì xào thán phục về uy lực của những "con voi thép", "xe tăng hiện đại nhất trong các loại xe tăng"…
Giữa tháng 7.1962, trong khi việc huấn luyện T-54 còn chưa kết thúc, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đến tận nơi thăm đơn vị và xem từ xe tăng, bãi bắn, bãi lái cho đến các trạm bảo dưỡng, sửa chữa, kho khí tài.

Đơn vị xe tăng T-54 thời điểm năm 1962
ẢNH: BCTTG
T-54 là dòng xe tăng được sản xuất nhiều nhất trong lịch sử quân sự thế giới. Đây là dòng xe tăng hạng trung (theo phân loại của Liên Xô) được chế tạo và sản xuất tại Liên Xô, chính thức trang bị cho quân đội Xô Viết từ năm 1947.

Xe tăng T-54B số hiệu 985 đang được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
ẢNH: MAI THANH HẢI
Trong quá trình sản xuất, các kỹ sư Liên Xô đã tiến hành hành nâng cấp mà không thay đổi mác xe. T-54 có 2 biến thể: T-54A được sản xuất hàng loạt từ 1955 - 1957, trang bị pháo chính D-10TG cỡ 100 mm tích hợp hệ thống ổn định nòng với bộ hút khói đầu nòng sau khi bắn (T-54 đời đầu dùng pháo D-10T); T-54B, sản xuất hàng loạt từ 1957 - 1959, được trang bị pháo nòng xoắn D-10T2S với hệ thống cân bằng pháo 2 trục dọc - ngang, cho phép giữ hướng pháo và khai hỏa ngay cả khi đang di chuyển. Có khí tài chuyên dụng để tác chiến ban đêm…
Bên cạnh xe tăng T-54, Việt Nam còn được Liên Xô viện trợ một số ít xe tăng T-55 vào khoảng những năm 70. Năm 1979, có 120 chiếc T-55 được đưa vào Việt Nam và năm 1980, thêm 125 chiếc xe tăng T-55 được Liên Xô chuyển sang.

Xe tăng T-54 tham gia duyệt binh ngày 1.5.1973 tại Hà Nội
ẢNH: BCTTG
Xe tăng T-55 là dòng xe tăng hạng trung (sau này gọi là xe chiến đấu chủ lực thế hệ đầu), do Liên Xô phát triển từ dòng xe T-54, đưa vào biên chế quân đội Xô Viết năm 1958. So với T-54, xe này đã áp dụng các nâng cấp mới, hiện đại hơn.
Đặc biệt năm 1986, Việt Nam nhận được 25 chiếc xe tăng T-62. Đây là thế hệ xe tăng hạng trung kế tiếp và là phiên bản cải tiến của xe tăng T-54/55 do Liên Xô nghiên cứu thiết kế, được đưa vào sản xuất hàng loạt từ năm 1961.

Xe tăng T-90 của Binh chủng Tăng thiết giáp huấn luyện chiến đấu, tháng 5.2025
ẢNH: TUẤN HUY
T-62 được phân loại là xe tăng chủ lực thế hệ 2, có sức mạnh hỏa lực vượt trội so với những loại xe tăng ra đời trước đó. T-62 là cơ sở để Liên Xô thiết kế xe tăng chủ lực T-72 và T-72 là cơ sở cho ra đời xe tăng T-90 hiện tại.
Trong biên chế bộ đội Tăng thiết giáp hiện nay, có đủ các dòng xe tăng T-54, T55, T-62, T-90. Nhưng chỉ có dòng xe tăng T-54 đã trải qua chiến đấu.
Cuối năm 1962, phía Liên Xô lại cử đoàn chuyên gia sang Việt Nam giảng dạy về sửa chữa, trùng tu xe tăng T-54 và PT-76 cho 75 cán bộ, chiến sĩ.
Tuy nhiên, các kíp lái xe tăng T-54, dù rất muốn đưa xe vào chiến đấu, nhưng vẫn chỉ nhận được chỉ đạo quen thuộc từ cấp trên: "Huấn luyện thuần thục đã. Có lệnh thì đi".

Xe tăng T-54 huấn luyện đội hình đánh chiếm điểm cao
ẢNH: BCTTG
Đại tá Lê Ngọc Quang (nguyên Chính ủy Binh chủng Tăng thiết giáp, thời kỳ 1965 - 1972) nhớ lại: "Suốt 9 năm trời, từ 1962 đến 1971, trong khi các đơn vị khác lũ lượt vào chiến trường, thì bộ đội xe tăng T-54 chỉ huấn luyện và sơ tán. Có những thời điểm, chúng tôi sơ tán dài ngày đến cả năm trời ở các vùng quê. Các tiểu đoàn trực thuộc trung đoàn đóng quân cách nhau 3 - 5 km. Đại đội thuộc tiểu đoàn cách nhau 1 - 2 km. Xe được để trong hầm, có kê đá hoặc gỗ dưới vệt xích".
Cất xe tăng đi bắn máy bay
Đầu năm 1965, không quân Mỹ bắt đầu ném bom miền Bắc. Thời điểm này, xe tăng vẫn chưa đủ điều kiện vào miền Nam chiến đấu, nên được sơ tán triệt để khỏi doanh trại. Tuy nhiên, Bộ Tư lệnh Thiết giáp (nay là Binh chủng Tăng thiết giáp) nhận thấy trong biên chế các trung đoàn xe tăng có pháo cao xạ tự hành, nên đề xuất cấp trên "cho phép các xe cao xạ tự hành đi bắn máy bay địch".

Cán bộ, chiến sĩ đại đội 12 cao xạ tự hành thuộc Đoàn 510 làm nhiệm vụ bảo vệ sân bay Đa Phúc (nay là Nội Bài) năm 1967
ẢNH: BCTTG
Ngày 1.10.1966, Bộ Tổng Tham mưu đồng ý với đề xuất trên. Ngay lập tức, Đoàn 510 - Bộ Tư lệnh Thiết giáp được thành lập với 11 đại đội cao xạ tự hành.
Đại tá Dương Đằng Giang (nguyên Tham mưu trưởng Binh chủng Tăng thiết giáp) kể: "Thời điểm đó, theo đúng biên chế thì mỗi trung đoàn xe tăng chỉ có 1 đại đội pháo phòng không ZSU-57-2. Tuy nhiên, khi kiểm tra kho, thấy khá nhiều xe cao xạ tự hành các loại với tình trạng kỹ thuật tốt, nên mới có ý tưởng mang ra bắn máy bay".
Đại tá Giang còn cho biết Đoàn 510 được thành lập với 11 đại đội trang bị pháo cao xạ 57 mm và 37 mm. Mỗi đại đội có 4 xe. Tổng là 44 xe cao xạ tự hành.

Dân quân xã Bình Xuyên, Vĩnh Phú (nay là tỉnh Phú Thọ) chuyển đạn cho bộ đội cao xạ tự hành bắn máy bay địch, năm 1967
ẢNH: BCTTG
Các thành viên kíp xe được huấn luyện kỹ chiến thuật phòng không và sau đó phối hợp các đơn vị bạn bảo vệ một số mục tiêu quan trọng (sân bay Nội Bài, sân bay Hòa Lạc, cầu Đuống, cầu Việt Trì, khu gang thép Thái Nguyên…).

Bộ đội thiết giáp đánh trả máy bay địch, bảo vệ thủ đô Hà Nội năm 1967
ẢNH: BCTTH
Trong hơn 1 năm chiến đấu, Đoàn 510 đã bắn rơi 5 máy bay địch, góp phần bắn rơi 10 chiếc khác. Điển hình như trận ngày 19.2.1967, Đại đội 12C phối hợp dân quân Núi Đôi bảo vệ sân bay Đa Phúc (nay là Nội Bài). Bị địch phát hiện, đánh vào trận địa suốt 2 tiếng, nhưng đơn vị vẫn trụ vững. Có khẩu đội chỉ còn 2 người, vẫn dũng cảm chiến đấu, bắn rơi 1 máy bay địch. Sau trận đánh, đơn vị được tặng Huân chương Chiến công hạng Nhì và danh hiệu "Cồn Cỏ đất liền"…

Cán bộ, chiến sĩ Đại đội 12 cao xạ tự hành, nổ súng đánh trả máy bay địch
ẢNH: BCTTG
Từ cuối tháng 8 đến cuối tháng 10.1966, toàn bộ 22 xe tăng bơi nước PT-76 thuộc tiểu đoàn xe tăng 177, hành quân từ Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc (nay là Phú Thọ) vào tập kết, sẵn sàng chiến đấu tại phía bắc sông Bến Hải (Quảng Trị).
Từ giữa tháng 10 đến cuối tháng 11.1967, đội hình 22 chiếc xe tăng bơi nước PT-76 (tiểu đoàn 198), cơ động từ miền Bắc vào Đường 9 (Quảng Trị) và cuối tháng 1, đầu tháng 2.1968, đánh trận đầu ở Tà Mây - Làng Vây (Quảng Trị).

Pháo phòng không tự hành ZSU-57 số hiệu 025 (bộ đội Tăng thiết giáp sử dụng chiến đấu bảo vệ bầu trời Hà Nội năm 1967 và chiến dịch Nguyễn Huệ năm 1972) hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam
ẢNH: MAI THANH HẢI
Tháng 9.1970, Tiểu đoàn 397 với 33 xe tăng T-34 hành quân từ Vĩnh Yên vào Quảng Trị và phối thuộc với bộ binh, đánh trận đầu của xe tăng hạng trung tại cứ điểm 550 trong chiến dịch phản công Đường 9 - Nam Lào, ngày 22.3.1971.

Xe tăng T-54B cải tiến của Binh chủng Tăng thiết giáp huấn luyện tại Trung tâm Huấn luyện Quân sự Quốc gia 4, tháng 7.2025
ẢNH: MAI THANH HẢI
Đúng 9 năm sau khi có mặt tại Việt Nam, đầu tháng 2.1971, lần đầu tiên xe tăng T-54 được phép hành quân vào chiến trường với đội hình 33 chiếc (thuộc Tiểu đoàn 297, Trung đoàn 203), tham gia chiến dịch Đường 9 - Nam Lào và phối thuộc với bộ binh tấn công đánh chiếm điểm cao 543, sáng ngày 27.2.1971. (còn tiếp)
Tại sao sau 9 năm, mới đưa xe tăng T-54 vào chiến trường?
Hạn chế về hạ tầng giao thông: đường Hồ Chí Minh giai đoạn đầu chỉ là đường mòn, dành cho người đi bộ. Địa hình đồi núi dốc, sông sâu, bùn lầy, thời tiết mưa lũ… làm cho việc đưa cả khối thép vài chục tấn di chuyển là bất khả thi.
Hậu cần và tiếp liệu: xe tăng tiêu thụ lượng lớn nhiên liệu và rất dễ hỏng hóc xích, bánh chịu nặng… khi hành quân đường dài. Nếu chưa có kho tàng bến bãi, xăng dầu, phụ tùng thay thế, thì xe tăng không thể di chuyển xa được.

Xe tăng T-54 huấn luyện lên xuống xe chở tăng
ẢNH: BCTTG
Yếu tố bí mật và bất ngờ: xe tăng T-54 có kích thước lớn, tạo ra tiếng ồn và khói bụi khi di chuyển, rất dễ bị máy bay trinh sát phát hiện. Chiến thuật ban đầu của Quân giải phóng là đánh du kích, chưa đến lúc sử dụng binh đoàn cơ giới lớn.
Chưa có lực lượng và cách đánh phù hợp: binh chủng mới thành lập tháng 10.1959, cần có thời gian dài để xây dựng lực lượng, huấn luyện bộ đội cách điều khiển, sửa chữa và kỹ chiến thuật phối hợp chiến đấu với bộ binh…
Khi đường Trường Sơn được mở rộng, nâng cấp thành hệ thống giao thông cơ giới lớn, với đầy đủ hệ thống kho tàng, binh trạm. Các đường ống xăng dầu kéo vào tận chiến trường… Lúc ấy xe tăng T-54 mới đủ điều kiện hành quân.