Bỏ qua điều hướng
•

Xóa lựa chọn giới tính: Làm gì để con gái không còn bị xem là “thiệt thòi”?

Xóa lựa chọn giới tính: Làm gì để con gái không còn bị xem là “thiệt thòi”?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Chuyên gia cho rằng chính sách dân số cần giảm áp lực phải có con trai, bảo đảm cơ hội bình đẳng cho trẻ em gái và thay đổi những định kiến giới trong gia đình, cộng đồng.

Bộ Y tế đang lấy ý kiến lần hai đối với dự thảo Thông tư về chính sách dân số, trong đó đề xuất các địa phương có thể biểu dương, hỗ trợ những gia đình có ít nhất hai con gái dưới 16 tuổi .

Trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh và tỷ suất sinh tiếp tục giảm, đề xuất này đang nhận được nhiều sự quan tâm.

Cần tránh tạo tâm lý “bù đắp”, không công bằng

Chia sẻ với phóng viên báo Dân trí dưới góc độ chính sách công, ThS Nguyễn Quang Việt Ngân, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Chính sách công, Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh), cho rằng việc Bộ Y tế đưa nội dung này vào dự thảo và tổ chức lấy ý kiến rộng rãi cho thấy cơ quan quản lý đang lắng nghe xã hội.

ThS Ngân nhận định đề xuất này cũng thể hiện quyết tâm đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng hơn trong những năm tới.

Xóa lựa chọn giới tính: Làm gì để con gái không còn bị xem là “thiệt thòi”? - 1

ThS Nguyễn Quang Việt Ngân, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu Chính sách công, Viện Nghiên cứu Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Ảnh: Nhân vật cung cấp).

Cụ thể, về mục tiêu, chính sách này truyền tải thông điệp Nhà nước ghi nhận, trân trọng các gia đình nuôi dạy con gái. Những gia đình đã có hai con gái có thể là nhóm chịu nhiều áp lực nhất từ gia đình, dòng họ trong việc "phải có con trai". Đây cũng là thời điểm nguy cơ lựa chọn giới tính ở lần sinh tiếp theo cao hơn.

Về thiết kế chính sách, bà Ngân cho rằng vẫn cần hoàn thiện, và giai đoạn lấy ý kiến chính là lúc phù hợp để làm điều đó.

Thứ nhất, cần cân nhắc các tiêu chí như con "học giỏi, thành đạt". Mục đích của các tiêu chí này là khuyến khích nuôi dạy tốt, nhưng nếu áp dụng như điều kiện, giá trị của trẻ em gái có thể vô tình bị gắn với thành tích. Trong khi đó, thông điệp muốn lan tỏa là mọi bé gái đều có giá trị ngang bằng bé trai, không phân biệt hoàn cảnh hay năng lực.

Thứ hai, cần chú ý đến cách truyền thông và tổ chức thực hiện. Nếu không khéo, việc biểu dương có thể khiến một bộ phận người dân hiểu rằng có con gái là điều cần được "bù đắp". Cách hiểu đó ngược với mục tiêu ban đầu và cũng tạo cảm giác không công bằng cho những gia đình sinh hai con trai dù họ không lựa chọn giới tính.

Thứ ba, nhìn ở góc độ hiệu quả, mức hỗ trợ có tính khích lệ như bảo hiểm y tế học sinh hay sữa học đường có ý nghĩa động viên. Tuy vậy, các hỗ trợ này khó thay đổi được những tính toán lâu dài của gia đình về chỗ dựa tuổi già, thừa kế hay thờ cúng.

Xóa lựa chọn giới tính: Làm gì để con gái không còn bị xem là “thiệt thòi”? - 2

Một trẻ sơ sinh vừa chào đời (Ảnh minh họa: Thảo Phương).

Việc giao địa phương tự quyết định nội dung và mức hỗ trợ là linh hoạt nhưng cũng cần cơ chế bảo đảm để chính sách được thực hiện đồng đều, nhất là ở những địa bàn có tỷ số giới tính khi sinh cao.

“Điều cần lưu ý hơn là không nên kỳ vọng một biện pháp mang tính khích lệ có thể tự giải quyết vấn đề. Chính sách nên được coi là một cấu phần trong một gói giải pháp đồng bộ, đi kèm cơ chế theo dõi, đánh giá tác động rõ ràng”, ThS Ngân nhấn mạnh.

Giảm sự phụ thuộc vào con trai để xóa bỏ định kiến giới

Theo chuyên gia, về lý thuyết, khi các gia đình sinh ít con hơn, áp lực "phải có ít nhất một con trai" trong số ít con đó lại càng lớn. Vì vậy, nếu chỉ khuyến sinh mà không giải quyết định kiến giới, chúng ta có thể cải thiện được mức sinh nhưng chưa chắc cải thiện được cân bằng giới tính.

ThS Ngân cho rằng một số biện pháp thực sự cần thiết là giảm sự phụ thuộc vào con trai khi về già thông qua mở rộng độ bao phủ bảo hiểm xã hội, lương hưu xã hội và dịch vụ chăm sóc người cao tuổi. Khi người cao tuổi được bảo đảm an sinh, động cơ phải có con trai sẽ giảm đáng kể.

Bên cạnh đó, cần bảo đảm bình đẳng thực chất về tài sản và vị thế của con gái, trong đó thực thi tốt quyền thừa kế bình đẳng, khuyến khích đứng tên chung vợ chồng trên tài sản, và vận động để con gái được ghi nhận trong gia phả, trong các nghi lễ dòng họ.

Cùng với đó là truyền thông thay đổi hành vi đúng đối tượng. Ngoài người phụ nữ, cần hướng mạnh vào nam giới, ông bà, người có uy tín trong dòng họ và cộng đồng, bởi họ thường có tiếng nói lớn trong quyết định sinh con.

“Tôi cho rằng nguyên tắc cốt lõi của một gói chính sách khuyến sinh và bình đẳng giới là hỗ trợ dành cho mọi trẻ em, không phân biệt trai hay gái, đồng thời đầu tư có chủ đích để trẻ em gái có cơ hội ngang bằng.

Khi việc nuôi một bé gái và một bé trai mang lại triển vọng, sự an tâm và niềm tự hào như nhau, lựa chọn giới tính sẽ dần mất đi lý do tồn tại”, chuyên gia chính sách công bày tỏ.

Xóa lựa chọn giới tính: Làm gì để con gái không còn bị xem là “thiệt thòi”? - 3

Đề xuất nhiều giải pháp để khuyến sinh, xóa bỏ lựa chọn giới tính thai nhi và trọng nam khinh nữ (Ảnh minh họa: Thảo Phương).

Tạo cơ hội bình đẳng cho con gái

Để chính sách khuyến sinh và bình đẳng giới vừa giúp các cặp vợ chồng giảm chi phí, rủi ro khi sinh và nuôi con, vừa khiến việc sinh con gái không còn bị xem là “thiệt thòi”, ThS Ngân đề xuất nhiều nhóm giải pháp.

Cụ thể, về hỗ trợ trực tiếp cho gia đình, có thể nghiên cứu lộ trình trợ cấp nuôi con nhỏ, ưu tiên hộ nghèo và vùng khó khăn. Có thể giảm hoặc miễn chi phí thai sản, sinh nở, chăm sóc sức khỏe trẻ em và áp dụng ưu đãi thuế theo số con. Với trẻ em gái ở vùng khó khăn, có thể có thêm hỗ trợ học tập để các em được học lâu hơn và cao hơn.

Về việc làm, cần khuyến khích nam giới nghỉ phép chăm con nhiều hơn, xem xét hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng lao động nữ trong giai đoạn thai sản và thúc đẩy giờ làm linh hoạt cho cha mẹ có con nhỏ. Như vậy, việc sinh con không trở thành gánh nặng riêng của người phụ nữ hay của doanh nghiệp.

Về nhà ở, có thể ưu tiên các gia đình trẻ có con nhỏ khi tiếp cận nhà ở xã hội và tín dụng ưu đãi, đồng thời khuyến khích hai vợ chồng cùng đứng tên tài sản.

Về giáo dục, cần tiếp tục chính sách miễn, giảm học phí, phát triển bữa ăn học đường, khuyến khích nữ sinh theo học các ngành khoa học, công nghệ và lồng ghép giáo dục bình đẳng giới trong nhà trường.

Về chăm sóc trẻ, đây là điểm then chốt. Cần mở rộng hệ thống nhà trẻ, đặc biệt cho trẻ dưới 3 tuổi và ở các khu công nghiệp, để cha mẹ, nhất là người mẹ, không phải lựa chọn giữa công việc và gia đình.

Về an sinh xã hội, có thể nghiên cứu ghi nhận thời gian chăm con nhỏ trong chính sách bảo hiểm xã hội, để người dành thời gian chăm con không bị thiệt thòi về lương hưu. Song song là phát triển mạnh dịch vụ chăm sóc người cao tuổi.

Về thay đổi hành vi, cần có các chương trình khuyến khích người cha tham gia chăm sóc con. Nên phát huy vai trò của người cao tuổi, người có uy tín, các dòng họ và tiếp tục đưa nội dung bình đẳng giới vào hương ước, quy ước.

“Việc khen thưởng cấp cộng đồng, như hướng mà dự thảo đã đề cập, là cách làm đáng nhân rộng vì tác động vào chuẩn mực chung thay vì từng gia đình riêng lẻ.

Nhìn xa hơn, mục tiêu của chúng ta không chỉ là đưa một chỉ số về mức cân bằng. Mục tiêu là xây dựng một xã hội mà ở đó cha mẹ không cần phải chọn giới tính cho con, vì con gái hay con trai đều có tương lai, có chỗ đứng và đều là niềm tự hào như nhau”, ThS Ngân nói.

Đề xuất của Bộ Y tế về việc biểu dương, hỗ trợ các gia đình có ít nhất hai con gái dưới 16 tuổi đang thu hút sự chú ý trong bối cảnh mất cân bằng giới tính khi sinh và mức sinh suy giảm. Sáng kiến này thể hiện nỗ lực của cơ quan quản lý nhằm giảm áp lực sinh con trai đối với các cặp vợ chồng, đặc biệt ở nhóm đối tượng có nguy cơ can thiệp lựa chọn giới tính cao trong lần sinh kế tiếp. Việc lấy ý kiến rộng rãi cho thấy tinh thần cầu thị nhằm hoàn thiện khung can thiệp trước khi ban hành chính thức. Dưới góc nhìn chính sách công, ThS Nguyễn Quang Việt Ngân nhận định thiết kế chính sách cần tránh biến tiêu chí thành tích như học giỏi hay thành đạt thành điều kiện thụ hưởng, bởi giá trị của trẻ em gái cần được công nhận bình đẳng và vô điều kiện. Công tác truyền thông cũng đòi hỏi sự thận trọng để không tạo ra tâm lý coi việc sinh con gái là một thiệt thòi cần được bù đắp, đồng thời tránh cảm giác bất bình đẳng đối với các gia đình sinh hai con trai. Các hỗ trợ tài chính hay phúc lợi nhỏ như bảo hiểm y tế và sữa học đường chỉ mang tính động viên nhất thời, chưa thể lập tức thay đổi quan niệm thâm căn cố đế về thờ cúng hay chỗ dựa lúc tuổi già. Việc trao quyền chủ động cho các địa phương giúp tăng tính linh hoạt nhưng cần đi đôi với cơ chế giám sát chặt chẽ nhằm bảo đảm sự đồng đều giữa các vùng có chênh lệch tỷ số giới tính lớn. Một biện pháp khích lệ đơn lẻ không thể giải quyết triệt để vấn đề định kiến giới nếu thiếu đi các giải pháp đồng bộ và lâu dài. Việc theo dõi, đánh giá tác động định kỳ sẽ là yếu tố quyết định để chính sách thực sự đi vào đời sống mà không làm biến dạng mục tiêu bình đẳng giới ban đầu.
amung