Bỏ qua điều hướng
•

1,6 triệu thanh niên “3 không”: Học nghề hay bằng mọi giá phải vào đại học?

1,6 triệu thanh niên “3 không”: Học nghề hay bằng mọi giá phải vào đại học?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Với 1,6 triệu thanh niên “3 không”, chuyên gia cho rằng tâm lý coi đại học là con đường duy nhất, cùng những hạn chế trong hướng nghiệp, khiến nhiều người trẻ chưa tìm được hướng đi phù hợp.

Sau khi báo Dân trí đăng tải các bài viết: “ 1,6 triệu thanh niên ‘3 không’: Người trẻ ngày càng lười biếng? ” và “ 1,6 triệu thanh niên ‘3 không’: Do cầm bằng giỏi cũng khó xin việc? ”, nhiều bạn đọc đã gửi ý kiến bày tỏ quan điểm về nguyên nhân dẫn đến tình trạng này.

Các ý kiến tập trung vào chất lượng đào tạo, hiệu quả phân luồng, sự lệch pha giữa đào tạo và nhu cầu tuyển dụng, đồng thời tranh luận về trách nhiệm của người trẻ và xã hội.

Lãng phí nguồn lực, đào tạo chưa sát nhu cầu

Một trong những vấn đề được nhiều bạn đọc quan tâm là sự mất cân đối giữa đào tạo và nhu cầu của thị trường lao động. Theo các ý kiến, tình trạng thanh niên “3 không”: không có việc làm, không tham gia học tập, không tham gia đào tạo, không thể chỉ nhìn từ góc độ lựa chọn cá nhân mà cần xem xét cả chất lượng giáo dục, cơ cấu đào tạo và khả năng kết nối việc làm.

1,6 triệu thanh niên “3 không”: Học nghề hay bằng mọi giá phải vào đại học? - 1

Theo bạn đọc, việc mở rộng đào tạo đại học nhưng chưa gắn chặt với nhu cầu xã hội có thể gây lãng phí nguồn lực (Ảnh minh hoạ: Mỹ Hà).

Một bạn đọc đề nghị thống kê thêm số người tốt nghiệp đại học nhưng không tìm được việc làm phù hợp, phải làm công nhân hoặc thất nghiệp. Theo bạn đọc này, việc mở rộng đào tạo đại học nhưng chưa gắn chặt với nhu cầu xã hội có thể gây lãng phí nguồn lực, trong khi nền kinh tế vẫn cần đội ngũ lao động có tay nghề.

Cùng quan điểm, bạn đọc Cảnh Ngô cho rằng cần quan tâm hơn đến hệ thống trường nghề và đào tạo các ngành đòi hỏi kỹ năng thực hành như cơ khí, điện tử, chế tạo, xây dựng, nông nghiệp. Theo bạn đọc, việc chú trọng đào tạo nghề sẽ giúp người trẻ có thêm lựa chọn thay vì tập trung vào mục tiêu học đại học.

Bạn đọc Nguyễn Phúc đề xuất đưa nội dung định hướng nghề nghiệp vào chương trình học từ lớp 9, đồng thời nâng cao chất lượng đào tạo ở các trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng. Người này cho rằng cơ sở đào tạo nghề cần liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp để học viên được thực hành và có cơ hội việc làm sau tốt nghiệp.

Theo bạn đọc này, liên kết doanh nghiệp cần trở thành yêu cầu bắt buộc đối với cơ sở đào tạo nghề, tránh tình trạng người học chủ yếu được trang bị lý thuyết nhưng thiếu kỹ năng thực tế khi bước vào thị trường lao động.

Bên cạnh vấn đề đào tạo, nhiều ý kiến cho rằng cần nhìn nhận tình trạng thanh niên “3 không” từ góc độ rộng hơn, bao gồm thu nhập, điều kiện sống, kỹ năng cá nhân và khả năng hòa nhập xã hội.

Bạn đọc Nhung Hoàng Nguyên cho rằng nhóm thanh niên này có thể đối mặt với nhiều khó khăn nối tiếp nhau: không có việc làm dẫn đến thiếu thu nhập, không được đào tạo nên thiếu kỹ năng nghề nghiệp, từ đó gặp trở ngại trong việc xây dựng cuộc sống ổn định. Bạn đọc nhận định đây là vấn đề cần được quan tâm bởi những hệ lụy có thể kéo dài.

Bạn đọc Nguyễn Thành đề cập đến áp lực chi phí sinh hoạt, đặc biệt là khả năng tiếp cận nhà ở và cơ hội cải thiện chất lượng cuộc sống. Theo ý kiến này, có việc làm và đủ trang trải nhu cầu thiết yếu chưa đồng nghĩa với việc người trẻ có thể xây dựng một cuộc sống ổn định lâu dài.

Có tình trạng người trẻ lựa chọn nghề nghiệp theo trào lưu

Trao đổi với phóng viên Dân trí, TS Lê Danh Quang, Chuyên gia hướng nghiệp, Phó Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Công nghệ cao Hà Nội, cho rằng tình trạng thanh niên “3 không” xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có những hạn chế trong công tác hướng nghiệp, tâm lý coi trọng bằng cấp và khoảng cách giữa đào tạo với nhu cầu thị trường lao động.

1,6 triệu thanh niên “3 không”: Học nghề hay bằng mọi giá phải vào đại học? - 2

TS Lê Danh Quang, cho rằng khi người trẻ hiểu mình, hiểu nghề và hiểu thị trường lao động, nguy cơ chọn sai ngành, lãng phí thời gian, chi phí học tập sẽ giảm, đồng thời giúp các em chủ động xây dựng sự nghiệp bền vững hơn (Ảnh: Minh Phong).

Theo ông Quang, một bộ phận thanh niên chưa được hướng nghiệp đầy đủ, chưa hiểu rõ năng lực bản thân cũng như yêu cầu của thị trường lao động. Tâm lý xem đại học là con đường duy nhất dẫn đến thành công khiến nhiều học sinh chưa mạnh dạn lựa chọn học nghề.

Bên cạnh đó, khó khăn kinh tế, thiếu kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp và kỹ năng mềm cũng là những rào cản đối với người trẻ. Mặt khác, nếu công việc có thu nhập thấp, thiếu ổn định và ít cơ hội phát triển, người lao động sẽ khó gắn bó lâu dài.

TS Quang cho rằng định kiến về giáo dục nghề nghiệp không đơn thuần là vấn đề nhận thức xã hội, mà còn liên quan trực tiếp đến chất lượng đào tạo, thu nhập, cơ hội thăng tiến và niềm tin của người học. Vì vậy, muốn thay đổi cách nhìn về học nghề, không thể chỉ dừng ở tuyên truyền mà phải chứng minh bằng kết quả thực tế.

Không nên đặt đại học và giáo dục nghề nghiệp trong thế đối lập. Điều quan trọng là mỗi người lựa chọn con đường phù hợp với năng lực, sở trường và mục tiêu của mình. Muốn xã hội thay đổi cách nhìn về học nghề, hãy để chất lượng đào tạo, việc làm tốt, thu nhập xứng đáng và những tấm gương thành công lên tiếng. Tấm bằng có thể mở ra cánh cửa đầu tiên, nhưng năng lực, tinh thần học hỏi và giá trị tạo ra cho xã hội mới quyết định sự phát triển lâu dài của mỗi người.
TS Lê Danh Quang

“Giá trị của học nghề phải được nhìn nhận qua năng lực làm việc, khả năng tạo ra thu nhập và triển vọng phát triển lâu dài của người học”, ông Quang nêu quan điểm.

Theo chuyên gia này, học nghề hoàn toàn có thể mở ra con đường trở thành chuyên gia, nhà quản lý, giảng viên hoặc doanh nhân. Điều quan trọng là chương trình đào tạo phải theo kịp công nghệ sản xuất, tăng cường thực hành và gắn với nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Ông đề xuất nâng cao chất lượng đào tạo, lấy nhu cầu doanh nghiệp và năng lực làm việc của người học làm thước đo; đồng thời tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp thông qua các mô hình đào tạo gắn với thực tiễn, thực tập hưởng lương và tuyển dụng sau tốt nghiệp.

Bên cạnh đó, cần xây dựng lộ trình nghề nghiệp và thu nhập rõ ràng để người lao động có thể phát triển từ kỹ thuật viên lên chuyên gia, quản lý kỹ thuật hoặc tự kinh doanh. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ phù hợp, trong khi doanh nghiệp cần trả lương tương xứng với năng lực và tạo điều kiện để người lao động nâng cao tay nghề.

TS Lê Danh Quang lưu ý tình trạng người trẻ lựa chọn nghề nghiệp theo trào lưu, chạy theo những ngành đang được chú ý hoặc được cho là có thu nhập cao. Theo ông, điều này phản ánh những hạn chế trong công tác hướng nghiệp: người học có thể tiếp cận nhiều thông tin về ngành nghề nhưng chưa hiểu đầy đủ về bản thân, tính chất công việc và nhu cầu thực tế của thị trường lao động.

1,6 triệu thanh niên “3 không”: Học nghề hay bằng mọi giá phải vào đại học? - 3

Chuyên gia cho rằng hoạt động hướng nghiệp phải đi vào thực chất, giúp học sinh hiểu sở thích, năng lực để lựa chọn ngành nghề phù hợp (Ảnh minh hoạ: D.T).

Thực tế, một số học sinh lựa chọn ngành học qua mạng xã hội, lời khuyên của bạn bè hoặc những câu chuyện về mức lương hấp dẫn, nhưng chưa tìm hiểu kỹ yêu cầu kỹ năng, áp lực công việc và cơ hội phát triển. Trong khi đó, hoạt động hướng nghiệp ở một số nơi còn thiên về giới thiệu tuyển sinh, thiếu trải nghiệm thực tế và thông tin cập nhật về nhu cầu nhân lực.

Từ kinh nghiệm làm việc tại doanh nghiệp sản xuất, giảng dạy và quản lý cơ sở giáo dục nghề nghiệp, ông Quang cho rằng hướng nghiệp cần giúp người trẻ trả lời ba câu hỏi: Bản thân phù hợp với nghề gì, thị trường lao động cần gì và cần chuẩn bị những gì để phát triển lâu dài?

Theo đó, hướng nghiệp trước hết phải giúp học sinh hiểu sở thích, năng lực, tính cách và điều kiện gia đình để lựa chọn ngành nghề phù hợp, thay vì chạy theo số đông. Người học cũng cần được cung cấp thông tin về nhu cầu tuyển dụng, yêu cầu trình độ, thu nhập thực tế và cơ hội thăng tiến của từng nghề, tránh chỉ nhìn vào mức lương cao nhất được quảng bá.

Đặc biệt, hoạt động hướng nghiệp cần gắn với trải nghiệm thực tiễn. Nhà trường nên phối hợp với doanh nghiệp tổ chức cho học sinh tham quan cơ sở sản xuất, trải nghiệm nghề, thực hành và giao lưu với người lao động, chuyên gia, cán bộ quản lý. Gia đình cũng cần tôn trọng năng lực, nguyện vọng của con; nhà trường phổ thông cần tư vấn khách quan về các lộ trình học tập, từ đại học đến cao đẳng, trung cấp và đào tạo nghề.

“Không có ngành nghề nào bảo đảm thành công chỉ vì đang là xu hướng, cũng không có con đường học tập nào phù hợp với tất cả mọi người”, ông Quang nhấn mạnh.

Theo chuyên gia này, hướng nghiệp hiệu quả không phải giúp học sinh chọn ngành được nhiều người lựa chọn nhất, mà là tìm ra con đường phù hợp với năng lực, sở trường và nhu cầu xã hội. Khi người trẻ hiểu mình, hiểu nghề và hiểu thị trường lao động, nguy cơ chọn sai ngành, lãng phí thời gian, chi phí học tập sẽ giảm, đồng thời giúp các em chủ động xây dựng sự nghiệp bền vững hơn.

Theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), trong quý III/2026, cả nước có khoảng 1,6 triệu thanh niên từ 15 đến 24 tuổi "3 không": không có việc làm, không tham gia học tập, không tham gia đào tạo, chiếm 11,2% tổng số thanh niên.

Con số này tăng hơn 195.000 người so với quý trước, đặt ra những vấn đề về hướng nghiệp, chất lượng đào tạo và khả năng kết nối giữa giáo dục với thị trường lao động. 

Con số 1,6 triệu thanh niên rơi vào nhóm "3 không" gồm không việc làm, không học tập và không đào tạo đang phản ánh sự lệch pha nghiêm trọng giữa hệ thống giáo dục với thị trường lao động. Nhiều chuyên gia và độc giả cho rằng việc mở rộng đại học thiếu kiểm soát khiến nguồn lực xã hội bị lãng phí, trong khi nền kinh tế lại thiếu hụt nhân lực kỹ thuật lành nghề. Tình trạng sinh viên tốt nghiệp phải làm công việc trái ngành hoặc thất nghiệp cho thấy áp lực chạy theo bằng cấp đang tạo ra những rào cản lớn cho người trẻ. Nhằm giải quyết bất cập này, giải pháp căn cơ được đề xuất là đẩy mạnh công tác phân luồng và nâng cao chất lượng đào tạo nghề ở các bậc sơ cấp, trung cấp và cao đẳng. Các ý kiến như của độc giả Nguyễn Phúc nhấn mạnh yêu cầu đưa giáo dục định hướng nghề nghiệp vào chương trình từ lớp 9, đồng thời bắt buộc cơ sở đào tạo phải liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp. Việc tập trung nguồn lực cho các ngành cơ khí, điện tử, chế tạo và nông nghiệp sẽ mở ra hướng đi thiết thực thay vì chỉ dồn sức vào cánh cửa đại học. Hệ lụy của nhóm thanh niên "3 không" không chỉ dừng lại ở vấn đề việc làm mà còn kéo theo chuỗi khó khăn về thu nhập, kỹ năng sống và khả năng hòa nhập xã hội. Như nhận định từ độc giả Nhung Hoàng Nguyên và Nguyễn Thành, sự thiếu hụt tích lũy tài chính cùng áp lực sinh hoạt phí đắt đỏ khiến thế hệ trẻ khó thiết lập một tương lai bền vững. Việc tái cơ cấu mô hình đào tạo gắn liền nhu cầu thực tiễn vì vậy là bài toán cấp bách để giải phóng tiềm năng của lực lượng lao động trẻ.
amung