Bỏ qua điều hướng
•

Áp lực chi phí vốn tăng

Áp lực chi phí vốn tăng
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Chi phí huy động vốn của các nhà băng vẫn đang gia tăng và gây áp lực đáng kể đến lãi suất cho vay trong thời gian tới.

Lãi trái phiếu ngân hàng lên 10,5%/năm

Ngân hàng (NH) TMCP Đại Chúng Việt Nam (PVcomBank) vừa phát hành lô trái phiếu kỳ hạn 10 năm với tổng giá trị 200 tỉ đồng, lãi suất lên 10,5%/năm. Mức lãi suất này gây chú ý trên thị trường khi chính thức vượt qua con số 10%. Trong quý 3, nhà băng này đã phát hành huy động vốn qua hình thức trái phiếu lên 4.000 tỉ đồng, có lô lãi suất 9,6%/năm.

Áp lực chi phí vốn tăng - Ảnh 1.

Các ngân hàng phát hành trái phiếu với lãi suất tăng cao

Ảnh: Nhật Thịnh

Các NH khác những tháng gần đây cũng ghi nhận nhiều đợt phát hành với lãi suất cao. MB huy động 2 lô trái phiếu vào tuần thứ 3 trong tháng 9 với lãi suất 9%/năm cho kỳ hạn 6 năm, tổng giá trị 1.750 tỉ đồng. Vietbank chào bán 2 đợt ra công chúng với quy mô 1.174 tỉ đồng, kỳ hạn 7 năm cùng mức lãi suất năm đầu tiên là 9,4%/năm. TPBank phát hành 2 lô trái phiếu trong tháng 9 với tổng giá trị 800 tỉ đồng. Trong đó, lô trái phiếu kỳ hạn 10 năm có lãi suất thả nổi 9,7%/năm trị giá 350 tỉ đồng, còn lô kỳ hạn 3 năm có lãi suất cố định 9,1%/năm trị giá 450 tỉ đồng.

Trước đó, nhóm NH có vốn nhà nước cũng huy động trái phiếu với lãi suất cao. Chẳng hạn, BIDV phát hành trái phiếu với lãi suất khoảng 8 - 8,2%/năm; Vietcombank có các lô trái phiếu với lãi suất khoảng 7,87 - 8%/năm…

Lãi suất trái phiếu của các NH đang cao hơn lãi suất tiết kiệm của chính họ. Chẳng hạn, PVcomBank đang niêm yết 5,3%/năm cho tiền gửi thông thường kỳ hạn 12 tháng, đối với khoản tiền gửi trên 2.000 tỉ đồng có lãi suất 10%/năm. Mức lãi suất huy động cao nhất công bố hiện nay ở mức 9,6%/năm thuộc về Ngân hàng số Cake by VPBank… Có thể thấy, mặt bằng lãi suất trái phiếu đã tăng đáng kể từ đầu năm 2026, thêm từ 2 - 3%/năm tùy NH, tiệm cận giai đoạn cuối năm 2022, đầu năm 2023. Điều này càng tạo thêm áp lực lên chi phí vốn và cấu trúc tài chính của NH.

Tại một hội thảo gần đây, ông Nguyễn Quang Thuận, Chủ tịch điều hành FiinGroup và FiinRatings, thông tin: Đến tháng 8, lãi suất huy động bình quân kỳ hạn 12 tháng ở mức 6,1%, trong khi lãi suất phát hành bình quân của trái phiếu NH và trái phiếu doanh nghiệp phi NH lần lượt đạt 8,7% và 12,2%. Riêng chi phí tiền gửi có kỳ hạn thực tế của nhóm NH thương mại cổ phần tư nhân đã lên 9,2% trong quý 2/2026, tiệm cận mức đỉnh 10,1% của quý 2/2023. Vì thế, khả năng giảm lãi suất nhanh vẫn bị giới hạn bởi những vấn đề mang tính cấu trúc. Đó là chênh lệch giữa tín dụng và huy động đã lên khoảng 2 triệu tỉ đồng, khoảng 80% tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng, hệ số an toàn vốn trung vị của nhóm NH thương mại cổ phần nhà nước chỉ ở mức 9,9%, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống tăng lên 2,01% vào tháng 6.

"Thị trường trái phiếu doanh nghiệp chưa phát huy đầy đủ vai trò cung ứng vốn dài hạn, đặc biệt qua phát hành ra công chúng. Việt Nam chưa hình thành đường cong lãi suất trái phiếu doanh nghiệp làm tham chiếu, khiến lãi suất phát hành vẫn chịu ảnh hưởng đáng kể từ lãi suất tiền gửi kỳ hạn 12 tháng của các NH lớn. Bên cạnh đó, quỹ đạo lãi suất của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) và chênh lệch lãi suất USD - VND vẫn là những biến số cần theo dõi", ông Thuận phân tích và nhận định: Những yếu tố này cho thấy doanh nghiệp cần chuẩn bị cho khả năng chi phí vốn duy trì ở mức cao trong thời gian dài hơn mong đợi, thay vì xây dựng kế hoạch tài chính dựa chủ yếu vào kỳ vọng lãi suất giảm.

Những biến số quan trọng

Ông Nguyễn Quang Huy (Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường ĐH Nguyễn Trãi) nhận xét lãi suất trái phiếu tăng lên đang phát đi tín hiệu đáng chú ý về giá vốn trung và dài hạn của hệ thống NH tăng trong bối cảnh lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ 10 năm duy trì ở vùng cao.

"Một số NH đã phát hành trái phiếu kỳ hạn 3 - 10 năm với lãi suất 9 - 10%/năm; riêng một lô trái phiếu kỳ hạn 10 năm có lãi suất năm đầu 10,5%/năm là dấu hiệu cho thấy nhu cầu vốn trung, dài hạn của NH đang ở mức cao, trong khi nguồn vốn có kỳ hạn dài không còn rẻ như trước", ông Huy nói và nhấn mạnh thêm mức lãi suất cao đặt trong tương quan giữa nhu cầu tín dụng, khả năng huy động và chiến lược vốn của từng NH. Điểm đáng lưu ý nằm ở chi phí vốn biên. Khi NH phải huy động nguồn vốn mới với mức giá cao hơn, chi phí vốn bình quân sẽ chịu áp lực tăng dần khi các nguồn vốn cũ được thay thế. Điều này tạo ra một giới hạn tự nhiên đối với khả năng giảm lãi suất cho vay. 

Thực tế, lãi suất huy động kỳ hạn dài trong tháng 6 đã ở mức 7,1 - 7,8%/năm, trong khi lãi suất cho vay bình quân cũng tăng 0,4 điểm phần trăm so với tháng trước. Do đó, không thể kỳ vọng lãi suất cho vay giảm mạnh chỉ bằng một tín hiệu điều hành, nếu chi phí huy động và nhu cầu vốn vẫn ở mức cao. Muốn mặt bằng cho vay giảm bền vững, điều kiện quan trọng là tốc độ huy động phải cải thiện tương ứng với tín dụng, thanh khoản hệ thống ổn định và áp lực cạnh tranh vốn giảm xuống.

Theo Hiệp hội NH Việt Nam, lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm duy trì quanh 5,2%/năm và tiệm cận đỉnh cao nhất trong gần 2 thập niên đang tạo nên thách thức chi phí vốn vay đắt đỏ. Việc lợi suất trái phiếu Chính phủ Mỹ neo cao vùng 5,2% và Fed tiếp tục thắt chặt chính sách làm tăng chi phí huy động vốn ngoại tệ của các chính phủ và doanh nghiệp tại các nước đang phát triển. Trong khi đó, mặt bằng biên lợi nhuận (NIM) toàn ngành NH vẫn chịu áp lực từ chi phí vốn neo cao, đặc biệt tại nhóm NH thương mại cổ phần có tăng trưởng tín dụng nhanh hoặc phụ thuộc nhiều hơn vào huy động kỳ hạn.

Theo ông Nguyễn Quang Huy, áp lực từ lợi suất trái phiếu Mỹ là một biến số quan trọng đến từ bên ngoài. Lợi suất Kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm đã tăng lên vùng trên 5,5% trong những ngày cuối tháng 9; ngày 1.10, lợi suất 10 năm được Bộ Tài chính Mỹ ghi nhận ở mức khoảng 5,64%/năm. Lợi suất trái phiếu Mỹ là một trong những chuẩn tham chiếu quan trọng của thị trường vốn quốc tế. Khi lợi suất tài sản bằng USD tăng cao, tài sản bằng VND thường phải duy trì mức lợi suất đủ hấp dẫn để bù đắp các rủi ro bổ sung, đặc biệt là rủi ro tỷ giá và thanh khoản. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa lợi suất trái phiếu Chính phủ Việt Nam bắt buộc phải tăng cùng tỷ lệ với Kho bạc Mỹ. Mức độ truyền dẫn còn phụ thuộc vào lạm phát trong nước, chính sách tiền tệ, cung cầu trái phiếu Chính phủ, triển vọng tỷ giá, dòng vốn quốc tế và sức khỏe tài khóa. Nhìn tổng thể, diễn biến hiện nay cho thấy chi phí vốn đang trở thành biến số quan trọng hơn trong bài toán tăng trưởng. Nếu lợi suất quốc tế duy trì cao đồng thời nhu cầu vốn trong nước tiếp tục mạnh, dư địa giảm lãi suất cho vay sẽ tương đối hạn chế. Ngược lại, khi huy động vốn tăng nhanh hơn tín dụng, thanh khoản cải thiện và áp lực tỷ giá dịu lại, mặt bằng lãi suất hoàn toàn có thể điều chỉnh theo hướng thuận lợi hơn.

Lãi suất tiền đồng liên NH giảm

Sau khi tăng mạnh vào ngày cuối tháng 9, lãi suất bình quân trên thị trường liên NH đã giảm trở lại vào đầu tháng 10 từ 0,5 - 2,7%/năm. Ngày 2.10, lãi suất kỳ hạn qua đêm còn 3,85%/năm, 1 tuần còn 3,89%/năm, 2 tuần 3,93%/năm, 1 tháng 4,03%/năm, 3 tháng còn 4,15%/năm… Doanh số giao dịch vẫn tập trung chủ yếu ở kỳ hạn qua đêm.

Mặt bằng lãi suất huy động qua kênh trái phiếu của các ngân hàng thương mại đang gia tăng mạnh mẽ từ đầu năm 2026 và chính thức vượt mốc 10%/năm. Điển hình là PVcomBank vừa phát hành lô trái phiếu kỳ hạn 10 năm trị giá 200 tỉ đồng với lãi suất lên tới 10,5%/năm, sau khi đã huy động 4.000 tỉ đồng trái phiếu trong quý 3. Hàng loạt nhà băng khác như MB, Vietbank và TPBank cũng gia nhập cuộc đua phát hành trái phiếu dài hạn với mức lãi suất phổ biến dao động từ 9% đến 9,7%/năm. Thực tế này cho thấy lãi suất phát hành trái phiếu của nhiều ngân hàng đang vượt xa mặt bằng lãi suất tiết kiệm thông thường. Theo ông Nguyễn Quang Thuận, Chủ tịch điều hành FiinGroup và FiinRatings, đến tháng 8, lãi suất phát hành bình quân trái phiếu ngân hàng đạt 8,7%, cao hơn nhiều mức 6,1% của tiền gửi kỳ hạn 12 tháng. Đáng chú ý, chi phí tiền gửi có kỳ hạn thực tế tại nhóm ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân trong quý 2/2026 đã vọt lên 9,2%, tiệm cận mức đỉnh 10,1% hồi quý 2/2023. Chi phí vốn tăng cao đang tạo áp lực lớn lên cấu trúc tài chính và khả năng giảm lãi suất cho vay của các ngân hàng trong thời gian tới. Sự giới hạn này bắt nguồn từ việc chênh lệch giữa tín dụng và huy động toàn hệ thống đã lên tới khoảng 2 triệu tỉ đồng, trong khi 80% tiền gửi có kỳ hạn dưới 12 tháng. Bên cạnh đó, tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống tăng lên 2,01% vào tháng 6 càng khiến áp lực chi phí đầu vào của các nhà băng trở nên gay gắt hơn.