Bỏ qua điều hướng
•

Bà nội mất, hai cháu bị gạt khỏi thỏa thuận thừa kế hơn 61.000m2 đất

Bà nội mất, hai cháu bị gạt khỏi thỏa thuận thừa kế hơn 61.000m2 đất
Nguồn ảnh: VietnamNet

Hơn 61.000m2 đất được phân chia sau khi bà nội qua đời, nhưng hai người cháu lại không có tên trong thỏa thuận thừa kế. Cho rằng quyền thừa kế của cha mình bị bỏ qua, hai người yêu cầu chia lại di sản.

Gia đình bên nội chia đất nhưng ‘bỏ quên’ hai cháu

Theo trình bày của ông H. (ngụ TP Đồng Nai), cha mẹ ông lần lượt qua đời vào năm 2014 và 2017, không để lại di chúc. Hai người có 7 người con trai, trong đó người con trai thứ sáu đã ly hôn trước khi qua đời vào năm 2014, để lại hai người con là chị T. và anh Th.

Khi còn sống, mẹ ông H. có nhiều thửa đất tại Đồng Nai, chủ yếu là đất vườn và đất ruộng, với tổng diện tích đo đạc thực tế là 61.105m2.

Năm 2017, bà lập tờ tương phân, ghi nhận việc phân chia một số thửa đất với tổng diện tích 58.000m2 cho ông H. và hai người con trai khác. Theo lời trình bày, những người con còn lại cũng được cho đất nhưng không lập giấy tờ. Sau khi bà qua đời, năm 2018, các thành viên trong gia đình lập văn bản thỏa thuận phân chia di sản.

Tuy nhiên, chị T. và anh Th. cho rằng việc phân chia đã bỏ qua quyền thừa kế của cha mình, ảnh hưởng đến quyền lợi của họ. Hai người cho rằng bà nội để lại nhiều thửa đất với tổng diện tích hơn 72.300m2, yêu cầu được hưởng 1/7 tổng diện tích, tương đương 10.337m2, đồng thời yêu cầu tuyên văn bản thỏa thuận phân chia di sản vô hiệu.

W-Đồng Nai 12.jpg
Hai người cháu cho rằng gia đình bên nội tự ý phân chia đất, bỏ qua quyền thừa kế của người cha đã qua đời. Ảnh minh họa: Nguyễn Huế 

Hai thửa đất là trọng tâm tranh chấp gồm thửa số 3, có diện tích hơn 3.500m2, và số 4 có diện tích hơn 3.600m2, chưa được phân chia theo tờ tương phân. 

Trong đó, thửa đất số 3 đã được người anh trai thứ hai của ông H. chuyển nhượng cho người khác vào năm 2023 với giá 4 tỷ đồng. 

Thửa đất số 4 do người anh trai thứ tư của ông H. quản lý, sử dụng từ năm 2006. Trên đất có mồ mả gia đình nên thửa đất này được để lại, tạm giao cho gia đình người này quản lý.

Ông H. khởi kiện, yêu cầu chia di sản của mẹ theo tờ tương phân năm 2017, đề nghị chia hai thửa đất thành ba phần bằng hiện vật cho mình và hai người em trai. Ông không đồng ý với yêu cầu chia di sản của hai người cháu.

Che giấu người thừa kế, thỏa thuận phân chia di sản bị yêu cầu hủy

Xét xử sơ thẩm, TAND khu vực 17 - TPHCM chấp nhận một phần yêu cầu của ông H. đối với thửa đất số 4, nhưng không chấp nhận yêu cầu chia thửa đất số 3. Tòa đồng thời chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của chị T. và anh Th. về việc chia di sản thừa kế.

Theo bản án, hai người được chia 942m2 đất thuộc một phần thửa đất số 4, cùng quyền sở hữu căn nhà tạm có diện tích 2,6m2. Người bác của chị T. và anh Th. được quyền quản lý, sử dụng 2.712,1m2 đất còn lại và phải thanh toán cho 5 anh em, mỗi người hơn 1 tỷ đồng. Đối với thửa đất số 3, tòa giao người anh trai thứ hai của ông H. quyền quản lý, sử dụng theo giấy chứng nhận đã cấp năm 2018.

Không đồng ý với bản án, chị T. và anh Th. kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm, TAND TPHCM nhận định cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ để xác định nguồn gốc một số thửa đất, đồng thời chưa giải quyết hết các yêu cầu độc lập đã được thụ lý, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Đáng chú ý, văn bản thỏa thuận phân chia di sản năm 2018 ghi nhận cha của chị T. và anh Th. đã qua đời mà không có vợ, con. Tuy nhiên, hai người đã cung cấp chứng cứ chứng minh quan hệ cha con. Theo tòa phúc thẩm, việc che giấu thông tin về người thừa kế ảnh hưởng đến quyền lợi của họ, nên yêu cầu tuyên văn bản này vô hiệu toàn bộ là có căn cứ.

Tòa phúc thẩm cũng cho rằng việc cấp sơ thẩm lựa chọn mức giá do Hội đồng định giá nhà nước xác định, trong khi kết quả thẩm định độc lập có sự chênh lệch lớn, là chưa phù hợp quy định pháp luật. Ngoài ra, một số người nhận chuyển nhượng đất chưa được đưa vào tham gia tố tụng để làm rõ giá chuyển nhượng thực tế.

Từ những thiếu sót trên, TAND TPHCM chấp nhận kháng cáo của chị T. và anh Th., hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, giao hồ sơ cho cấp sơ thẩm xét xử lại theo quy định pháp luật.

(Tham khảo Bản án số 1505/2026/DS-PT ngày 7/8/2026 của TAND TPHCM)


 

Vụ tranh chấp di sản thừa kế hơn 61.000m2 đất tại Đồng Nai bắt nguồn từ việc hai người con của người con trai thứ sáu đã qua đời bị gạt tên trong thỏa thuận gia đình. Cụ thể, sau khi cha mẹ lần lượt qua đời vào năm 2014 và 2017 không để lại di chúc, các thành viên đã lập văn bản thỏa thuận phân chia tài sản vào năm 2018 nhưng hoàn toàn bỏ qua suất thừa kế thế vị này. Cho rằng quyền lợi hợp pháp của người cha quá cố bị xâm phạm, chị T. và anh Th. đã khởi kiện yêu cầu tuyên vô hiệu văn bản thỏa thuận nói trên và đòi chia lại khối tài sản chung. Tâm điểm của vụ kiện dồn vào hai thửa đất số 3 rộng hơn 3.500m2 và số 4 rộng hơn 3.600m2 chưa được định đoạt cụ thể theo tờ tương phân lập năm 2017. Trong khi thửa đất số 3 đã bị người bác thứ hai bí mật chuyển nhượng cho bên thứ ba với giá 4 tỷ đồng vào năm 2023, thửa số 4 có mồ mả tổ tiên hiện do người bác thứ tư trực tiếp trông coi. Nguyên đơn là ông H. yêu cầu chia hai thửa đất này thành ba phần cho ba anh em ruột và kiên quyết phản đối quyền thừa kế của các cháu. Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân khu vực 17 Thành phố Hồ Chí Minh từng chấp nhận một phần yêu cầu của ông H. và giao 942m2 thuộc thửa số 4 cho chị T. cùng anh Th. Tuy nhiên, do không đồng thuận với phán quyết phân chia tài sản và việc công nhận quyền quản lý thửa đất số 3, hai người cháu đã nộp đơn kháng cáo. Tại cấp phúc thẩm, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận định cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ xác định nguồn gốc đất và bỏ sót các yêu cầu độc lập đã thụ lý.
amung