Bỏ qua điều hướng

Bài 2: Dồn nguồn lực gỡ “điểm nghẽn” chuyển đổi số

Bài 2: Dồn nguồn lực gỡ “điểm nghẽn” chuyển đổi số
Nguồn ảnh: Nhân Dân

100 ngày xử lý điểm nghẽn chuyển đổi số được triển khai với yêu cầu không chỉ “làm cho xong”, mà phải xác định đúng điểm nghẽn, tập trung xử lý để tạo chuyển biến. Với 50 nhiệm vụ được triển khai trên phạm vi toàn quốc, khối lượng lớn, thời gian ngắn, đòi hỏi chúng ta phải có những cách làm quyết li...

Chuyển đổi số được Đảng và Nhà nước xác định là một trong ba đột phá chiến lược trong kỷ nguyên mới. Đây chính là yêu cầu cấp bách, là lựa chọn chiến lược để Việt Nam bứt phá, rút ngắn khoảng cách phát triển, hội nhập sâu rộng và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo động lực mới cho phát triển kinh tế-xã hội.

Trong 100 ngày cả hệ thống chính trị tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, từ thể chế, hạ tầng dữ liệu đến nhân lực, mỗi nguồn lực chỉ thực sự phát huy giá trị khi tập trung đúng “nút thắt” để khắc phục, gắn với người chịu trách nhiệm và sản phẩm có thể kiểm chứng được.

Tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng yếu

Để chuyển đổi số đi vào chiều sâu, thực chất, từ bộ, ngành đến các địa phương trên cả nước đang tập trung nguồn lực triển khai Kế hoạch hành động 100 ngày, với trọng tâm là nhận diện, xử lý dứt điểm những “điểm nghẽn” đang cản trở quá trình chuyển đổi số.

Từ thực tiễn triển khai tại nhiều nơi cho thấy, nguồn lực đã được đầu tư nhưng chưa khai thác hiệu quả; dữ liệu có nhưng phân tán, chưa chuẩn hóa; cán bộ có thiết bị nhưng thiếu kỹ năng; nhiệm vụ đã được giao nhưng tiến độ còn chậm. Bởi vậy, tháo gỡ “điểm nghẽn” phải bắt đầu từ việc huy động và tổ chức lại các nguồn lực theo đúng nhu cầu thực tế.

Theo ông Lê Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Chuyển đổi số quốc gia (Bộ Khoa học và Công nghệ), từ ngày 1/7/2026, Luật Chuyển đổi số chính thức có hiệu lực. Cùng với đó, nhiều văn bản quan trọng được ban hành như Nghị định số 224/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Chuyển đổi số, Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 và Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số.

Bộ Khoa học và Công nghệ cũng ban hành các quy định về quản lý đầu tư, quản lý chất lượng dự án chuyển đổi số và bộ tiêu chí đánh giá mức độ sẵn sàng của thủ tục hành chính, tạo cơ sở chuẩn hóa quá trình triển khai và đánh giá hiệu quả các nhiệm vụ chuyển đổi số.

anh-2841.jpg
Cán bộ tiếp nhận và trả kết quả tập trung cho người dân tại tỉnh Tuyên Quang. (Ảnh: ĐỨC THẮNG)

Cùng với việc hoàn thiện thể chế, nguồn lực cho chuyển đổi số được tăng cường. Nghị định số 224/2026/NĐ-CP quy định các nhiệm vụ chi ngân sách nhà nước cho chuyển đổi số và các cơ chế liên quan đến đầu tư, mua sắm, thuê dịch vụ, thử nghiệm trong chuyển đổi số. Chính sách dành tối thiểu 1% chi ngân sách nhà nước cho chuyển đổi số cũng tạo thêm nguồn lực cho các nhiệm vụ trong lĩnh vực này.

Hiện nay, dữ liệu là một trong những điểm nghẽn trọng tâm được đặt ra trong đợt cao điểm. Tình trạng dữ liệu hiện còn phân tán, thiếu kết nối, một số hệ thống được đầu tư riêng lẻ, chức năng trùng lặp, làm tăng chi phí đầu tư, vận hành và gây khó khăn cho liên thông. Trước thực tiễn đó, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1132/QĐ-TTg ban hành tiêu chí, danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị. Danh mục gồm 79 nền tảng, trong đó có 17 nền tảng dùng chung cho các ngành, lĩnh vực. Các nền tảng này phải bảo đảm khả năng kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu; đồng thời cung cấp dữ liệu, chỉ số phục vụ giám sát, đo lường, đánh giá hoạt động và hiệu quả sử dụng.

Việc xác định 79 nền tảng số dùng chung quốc gia là một trong những giải pháp nhằm hạn chế đầu tư trùng lặp, tăng khả năng kết nối và khai thác chung. Kế hoạch 100 ngày đồng thời tập trung xử lý những nhiệm vụ đã được bố trí nguồn lực nhưng triển khai hoặc giải ngân chậm.

Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký Quyết định số 1132/QĐ-TTg ban hành tiêu chí, danh mục nền tảng số dùng chung quốc gia trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị. Danh mục gồm 79 nền tảng, trong đó có 17 nền tảng dùng chung cho các ngành, lĩnh vực. Các nền tảng này phải bảo đảm khả năng kết nối, liên thông, chia sẻ dữ liệu; đồng thời cung cấp dữ liệu, chỉ số phục vụ giám sát, đo lường, đánh giá hoạt động và hiệu quả sử dụng.

Đây là hướng xử lý trực tiếp một trong những điểm nghẽn phổ biến hiện nay. Bởi theo các chuyên gia, nhiều nơi đã có hệ thống, phần mềm nhưng chưa kết nối, dẫn đến đầu tư phân tán và cán bộ phải thao tác trên nhiều nền tảng. Gỡ điểm nghẽn này, các nền tảng dùng chung sẽ được chuẩn hóa và khai thác hiệu quả, nguồn lực đầu tư không chỉ được tiết kiệm mà còn tạo ra một hạ tầng số thống nhất, thông suốt hơn.

Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm

Kế hoạch hành động 100 ngày gỡ điểm nghẽn được triển khai nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ theo kế hoạch của Ban Chỉ đạo Trung ương và chỉ đạo của Chính phủ. Với những nhiệm vụ được triển khai trên phạm vi toàn quốc trong thời gian 100 ngày, khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi các bộ, ngành, địa phương phải hành động quyết liệt, đồng bộ và đúng tiến độ.

anh-2748.jpg
Hướng dẫn người dân tại Khu hành chính công của tỉnh Tuyên Quang. (Ảnh: ĐỨC THẮNG)

Điểm đáng chú ý là các nhiệm vụ không chỉ được giao theo mục tiêu chung, mà được cụ thể hóa theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả”. Tiến độ và kết quả thực hiện của từng đơn vị, địa phương được cập nhật, theo dõi, giám sát thường xuyên trên hệ thống trực tuyến, qua đó từng nhiệm vụ, từng đầu việc đều có địa chỉ trách nhiệm và có thể kiểm chứng bằng kết quả cụ thể.

Các nhiệm vụ không chỉ được giao theo mục tiêu chung, mà được cụ thể hóa theo nguyên tắc “rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả”. Tiến độ và kết quả thực hiện của từng đơn vị, địa phương được cập nhật, theo dõi, giám sát thường xuyên trên hệ thống trực tuyến, qua đó từng nhiệm vụ, từng đầu việc đều có địa chỉ trách nhiệm và có thể kiểm chứng bằng kết quả cụ thể.

Tại Gia Lai, theo Kế hoạch số 02-KH/BCĐ của Ban Chỉ đạo tỉnh, một nhiệm vụ chỉ được xác nhận hoàn thành khi có sản phẩm và minh chứng kiểm chứng được; hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu, nền tảng, dịch vụ số phải vận hành được, có dữ liệu, có người sử dụng thực tế; không xác nhận hoàn thành với sản phẩm còn là dự thảo. Tiến độ được cập nhật hằng tuần, hằng tháng trên Hệ thống theo dõi của Trung ương; nhiệm vụ nguy cơ chậm từ 5 ngày trở lên phải có phương án khắc phục ngay; danh sách nhiệm vụ chậm, cơ quan chậm được công khai; kết quả thực hiện được đưa thành tiêu chí đánh giá, xếp loại tập thể, cá nhân, người đứng đầu. Tất cả mọi nhiệm vụ đều được triển khai trên nguyên tắc "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền, rõ thời gian, rõ kết quả.

Cách làm này đã tạo ra sự thay đổi tích cực, các nhiệm vụ được đánh giá qua sản phẩm cuối cùng và khả năng vận hành trong thực tế.

Tại Tây Ninh, yêu cầu trách nhiệm được đặt ra ở người đứng đầu. Theo Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh Lê Văn Hẳn, Kế hoạch 100 ngày không chỉ xác định việc cần làm mà quan trọng hơn là xác định rõ ai làm, làm đến đâu, khi nào hoàn thành và sản phẩm phải được kiểm chứng như thế nào. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị, địa phương được giao nhiệm vụ chịu trách nhiệm toàn diện trước Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh về tiến độ, chất lượng, sản phẩm đầu ra; đồng thời các đơn vị phải chủ động huy động, điều phối nguồn lực, triển khai các khâu từ đầu tư, mua sắm, tạo lập dữ liệu, đào tạo đến bảo đảm an ninh mạng và giải ngân, không chờ đủ mọi điều kiện mới bắt đầu thực hiện.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh cũng cho biết, đến nay tỉnh đã số hóa hơn 3,67 triệu dữ liệu hộ tịch, hơn 39,14 triệu trang tài liệu lưu trữ; xác thực 99,7% dữ liệu người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; làm sạch 100% dữ liệu văn bằng, chứng chỉ và rà soát, đối khớp thông tin hơn 2,53 triệu thửa đất…

Tây Ninh cũng đặt mục tiêu đến ngày 30/9/2026, 100% điểm lõm sóng và điểm thiếu điện trên địa bàn phải được rà soát, có phương án xử lý (tối thiểu 80% điểm ưu tiên phục vụ cơ quan công quyền, trường học, cơ sở y tế và người dân được khắc phục). Đối với hạ tầng phục vụ chuyển đổi số, các cơ quan chức năng phải bảo đảm 100% bộ phận một cửa và các đơn vị trọng yếu được trang bị đầy đủ máy tính, máy quét, chữ ký số và thiết bị bảo mật tối thiểu. Ở lĩnh vực dữ liệu số, các sở, ngành và địa phương phải hoàn thành việc rà soát, làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu thuộc phạm vi quản lý trước ngày 6/10/2026.

Những con số trên cho thấy, khi trách nhiệm được gắn với từng nhiệm vụ, nguồn lực được huy động, các điểm nghẽn sẽ được xử lý kịp thời và hiệu quả hơn. 100 ngày là đợt cao điểm hình thành cách làm mới. Khi đó, mỗi điểm nghẽn được tháo gỡ sẽ tạo nền tảng để chuyển đổi số vận hành bền vững, hiệu quả hơn trong quản lý nhà nước và phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Hoàn thiện dữ liệu nâng cao dịch vụ công

Dữ liệu đóng vai trò là nền tảng cốt lõi, quyết định sự sống còn và thành công của mọi quá trình chuyển đổi số. Tại Việt Nam, các mô hình triển khai kho dữ liệu dùng chung đã bước đầu cho thấy hiệu quả rõ rệt. Đơn cử như kho dữ liệu dùng chung tỉnh Ninh Bình đã tích hợp hơn 1.500 bộ dữ liệu chuyên ngành, ghi nhận gần 55 nghìn lượt truy cập, góp phần nâng tỷ lệ hồ sơ được giải quyết đúng và trước hạn lên tới 99,1% .

Ở quy mô quốc gia, Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư do Bộ Công an quản lý đã tạo nền tảng định danh thống nhất, trở thành trục xương sống cho các hệ thống khác kết nối và khai thác dữ liệu xác thực. Hệ thống đã xử lý hàng tỷ giao dịch, giúp giảm giấy tờ, cho phép tra cứu tự động và nâng cao hiệu quả xử lý thủ tục hành chính.

dn-7029.jpg
Hoạt động tại Trung tâm Giám sát, điều hành thông minh thành phố Đà Nẵng. (Ảnh: CÔNG VINH)

Tại Hà Nội, với việc triển khai Chiến dịch tăng tốc 100 ngày gỡ điểm nghẽn về chuyển đổi số, Hà Nội xác định dữ liệu là tài nguyên quan trọng, song thực tế hiện trạng cho thấy dữ liệu vẫn phân tán ở nhiều hệ thống và định dạng khác nhau, dẫn đến tình trạng cán bộ, nhất là ở cấp cơ sở, phải thao tác trùng lặp trên nhiều phần mềm. Ông Cù Ngọc Trang, Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Hà Nội cho biết, Thành phố đã triển khai kế hoạch di trú và chuẩn hóa dữ liệu về Kho dữ liệu dùng chung. Theo lộ trình, đến hết năm 2026 dự kiến hoàn thiện 93 nhóm dữ liệu.

Mục tiêu lớn nhất của đợt cao điểm 100 ngày là gỡ điểm nghẽn cản trở quá trình chuyển đổi số của Thủ đô, đặc biệt là xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung, khắc phục tình trạng dữ liệu chưa bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống” còn phân tán, chưa được kết nối và tái sử dụng hiệu quả; đồng thời nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến, đẩy nhanh tiến độ các nhiệm vụ chuyển đổi số và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế của thành phố.

Đáp ứng yêu cầu thực tiễn, Bộ Khoa học và Công nghệ vừa hoàn thiện và giới thiệu Hệ thống thông tin quốc gia, cung cấp 137 chỉ tiêu thống kê của ngành và 17 chỉ tiêu thống kê quốc gia trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Hệ thống đã kết nối, tích hợp dữ liệu với Trung tâm dữ liệu quốc gia, hỗ trợ đăng nhập một lần qua VNeID và sẵn sàng kết nối, chia sẻ dữ liệu theo thời gian thực với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Theo Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định, giá trị của hệ thống không nằm ở việc có một phần mềm hiện đại đến đâu, mà ở chất lượng dữ liệu, khả năng kết nối, mức độ khai thác và hiệu quả thực tế mang lại. Vì vậy, dữ liệu phải được xác định là yếu tố cốt lõi, thường xuyên cập nhật, chuẩn hóa, làm sạch và xác thực, bảo đảm các yêu cầu “đúng, đủ, sạch, sâu, thống nhất, dùng chung, chia sẻ”.

Với những dữ liệu quan trọng, cần có cơ chế xác thực, kiểm chứng rõ ràng để bảo đảm độ tin cậy. Quan trọng hơn, dữ liệu phải trở thành công cụ thúc đẩy cải cách hành chính. Khi thông tin đã được cơ quan nhà nước hình thành, chuẩn hóa và liên thông, người dân, doanh nghiệp và nhà khoa học không thể tiếp tục phải cung cấp lại những dữ liệu mà Nhà nước đã có. Đó mới là thước đo cho thấy việc gỡ điểm nghẽn dữ liệu đã thực sự chuyển thành cải cách quy trình và nâng cao chất lượng phục vụ.

Với những dữ liệu quan trọng, cần có cơ chế xác thực, kiểm chứng rõ ràng để bảo đảm độ tin cậy. Quan trọng hơn, dữ liệu phải trở thành công cụ thúc đẩy cải cách hành chính. Khi thông tin đã được cơ quan nhà nước hình thành, chuẩn hóa và liên thông, người dân, doanh nghiệp và nhà khoa học không thể tiếp tục phải cung cấp lại những dữ liệu mà Nhà nước đã có. Đó mới là thước đo cho thấy việc gỡ điểm nghẽn dữ liệu đã thực sự chuyển thành cải cách quy trình và nâng cao chất lượng phục vụ.

Thứ trưởng Khoa học và Công nghệ Lê Xuân Định

Trong thời gian tới, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục hoàn thiện dữ liệu theo các tiêu chí “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung, chia sẻ”, đồng thời tăng cường xác thực, kiểm chứng đối với những dữ liệu quan trọng. Khi dữ liệu được làm sạch và liên thông, điểm nghẽn không chỉ được tháo gỡ ở khâu kỹ thuật, mà còn mở đường cho một phương thức quản trị mới: quyết định dựa trên dữ liệu, dịch vụ được thiết kế theo nhu cầu và người dân, doanh nghiệp thực sự được hưởng lợi từ chuyển đổi số.

dn-3285.jpg
Trung tâm giám sát và điều hành thông minh phường Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. (Ảnh: CÔNG VINH)

Thực tế chứng minh, dữ liệu được ví như “dầu mỏ” của chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo. Khi dữ liệu còn bị chia cắt, các hệ thống dù được đầu tư bài bản đến đâu vẫn chỉ là những phần rời rạc, không thể kết nối để nâng cao hiệu quả cho toàn bộ quy trình. Theo chuyên gia Trung tâm Dịch vụ dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo Viettel (Viettel AI), các cơ quan nên chuyển sang cách tiếp cận tập trung, sử dụng kho dữ liệu dùng chung làm hạ tầng kết nối các nguồn thông tin vốn đang rời rạc. Hiểu đơn giản, đây là nền tảng tập trung cho phép thu thập, lưu trữ, quản trị dữ liệu từ nhiều hệ thống khác nhau trong cùng một kiến trúc thống nhất. Tại đây, dữ liệu được tích hợp, làm sạch, chuẩn hóa định dạng và gắn nhãn trên một nền tảng duy nhất trước khi phân phối lại cho các hệ thống nghiệp vụ để khai thác, thay vì tồn tại độc lập tại mỗi đơn vị như trước.

Trên các nền tảng dữ liệu “đúng, đủ, sạch, sống” này, các ứng dụng AI có thể được triển khai để tự động xác thực thông tin, phát hiện sai lệch và hỗ trợ xử lý hồ sơ theo thời gian thực, thay vì phụ thuộc vào thao tác thủ công như trước .

Đây cũng là hướng tiếp cận mà Viettel AI đang phát triển nhằm giúp các bộ, ngành và địa phương tích hợp dữ liệu từ nhiều hệ thống khác nhau về một hạ tầng thống nhất, thực hiện chuẩn hóa và sẵn sàng cho khai thác. Trên kho dữ liệu dùng chung, dữ liệu không chỉ được lưu trữ và liên thông hiệu quả hơn mà còn trở thành cơ sở để triển khai các hệ thống phân tích, giám sát và quản trị vận hành dựa trên dữ liệu, điển hình như Nền tảng Quản trị và Phân tích dữ liệu Viettel (Viettel DAP). Viettel DAP có khả năng tự động tổng hợp dữ liệu, xây dựng bảng biểu báo cáo theo thời gian thực, phân tích dữ liệu đa chiều và hỗ trợ giám sát vận hành trên cùng một kiến trúc thống nhất, giúp giảm tới 92% khối lượng báo cáo và 95% thời gian tổng hợp thông tin.

Nhìn rộng hơn, liên thông dữ liệu tại kho dữ liệu dùng chung chính là cơ hội để bộ máy hành chính chuyển đổi sang mô hình quản trị linh hoạt và thực sự hoạt động dựa trên dữ liệu thay vì phụ thuộc vào báo cáo tổng hợp thủ công. Dịch vụ công cũng sẽ thoát khỏi những giới hạn của cấu trúc tổ chức để thực sự vận hành vì nhu cầu của người dân và doanh nghiệp.

Bài 1: Rào cản trên hành trình số

SONG LINH - LIÊN HIẾU - CHUNG THẮNG VINH

Chuyển đổi số được Đảng và Nhà nước xác định là một trong ba đột phá chiến lược, tạo động lực để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy kinh tế, xã hội. Kế hoạch hành động 100 ngày vì thế không đặt mục tiêu hoàn thành nhiệm vụ theo hình thức, mà yêu cầu nhận diện đúng điểm nghẽn, quy trách nhiệm cụ thể và tạo ra sản phẩm có thể kiểm chứng. Với 50 nhiệm vụ triển khai trên phạm vi toàn quốc trong thời gian ngắn, yêu cầu cấp thiết là dồn nguồn lực vào các nút thắt trọng yếu về thể chế, dữ liệu và nhân lực. Thực tiễn cho thấy nhiều nguồn lực chưa phát huy hiệu quả do dữ liệu phân tán, thiếu chuẩn hóa, cán bộ có thiết bị nhưng hạn chế kỹ năng, trong khi một số nhiệm vụ đã được giao vẫn chậm tiến độ. Nền tảng pháp lý cho quá trình xử lý điểm nghẽn đang được củng cố khi Luật Chuyển đổi số có hiệu lực từ ngày 1/7/2026, cùng Nghị định số 224/2026/NĐ-CP, Chiến lược quốc gia về chuyển đổi số giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2045 và Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số. Các quy định về quản lý đầu tư, chất lượng dự án và bộ tiêu chí đánh giá mức độ sẵn sàng của thủ tục hành chính giúp chuẩn hóa triển khai, đồng thời chính sách dành tối thiểu 1% chi ngân sách nhà nước cho chuyển đổi số tạo thêm nguồn lực thực hiện. Dữ liệu hiện là điểm nghẽn nổi bật bởi nhiều hệ thống được đầu tư riêng lẻ, trùng lặp chức năng, làm tăng chi phí vận hành và cản trở kết nối. Quyết định số 1132/QĐ-TTg do Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng ký, ban hành danh mục 79 nền tảng số dùng chung quốc gia, trong đó có 17 nền tảng dùng chung cho các ngành, lĩnh vực, là bước tổ chức lại hạ tầng theo hướng đồng bộ, liên thông và khai thác hiệu quả hơn nguồn lực đã đầu tư.