Tại buổi tọa đàm với chủ đề “Làm sao để phát triển kinh tế - xã hội miền núi hiệu quả, bền vững” do báo Dân trí tổ chức, PGS.TS Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam (PHANO), Triệu tập viên Quốc gia về chuyển đổi hệ thống Lương thực - Thực phẩm, cho rằng hiện nay các tỉnh miền núi gặp nhiều vấn đề khó khăn mang tính đa chiều chứ không phải chỉ một vấn đề.
“Để đạt được mục tiêu phát triển bền vững, chúng tôi nghĩ cần phải có một tư duy lại mang tính hệ thống tổng thể tất cả các vấn đề và cần phải phối hợp triển khai đồng bộ”, ông Thế Anh nói.

PGS.TS Đào Thế Anh chia sẻ tại tọa đàm (Ảnh: Thành Đông).
"Chúng ta cần phải đầu tư nhiều hơn”
PGS.TS Đào Thế Anh chia sẻ, miền núi có những đặc thù, kể cả về tự nhiên cũng như kinh tế - xã hội. Trong cái khung “nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại và nông dân văn minh”, theo vị chuyên gia, các tỉnh miền núi cần khai thác tối đa tiềm năng về điều kiện sinh thái cũng như kinh tế - xã hội của địa phương.
Hệ thống sinh thái ở miền núi rất đa dạng. Điều kiện của mỗi vùng lại rất khác nhau và chính sự đa dạng đó cũng là một nguồn lợi về sinh thái.
“Chúng ta phải tư duy làm thế nào để khai thác được, chứ nếu cứ theo mô hình chung là nông nghiệp thâm canh như ở đồng bằng sẽ không khai thác được các tiềm năng. Như vậy, các địa phương cũng cần phải tư duy lại”, ông Thế Anh nêu quan điểm.
Hiện nay chiến lược của chúng ta có nông nghiệp sinh thái, chuyển đổi xanh, nông nghiệp phát thải thấp, phát thải khí nhà kính thấp… Trong khi đó, nhu cầu về đầu tư, đặc biệt đầu tư về cơ sở hạ tầng địa phương còn yếu hơn vùng đồng bằng.
Ông Thế Anh dẫn ví dụ như trong 10 năm thực hiện nông thôn mới vừa qua, vùng đồng bằng đã giải quyết cơ bản vấn đề cơ sở hạ tầng nông thôn ở trong nội xã, nội thôn. Nhưng ở miền núi “còn xa lắm so với nhu cầu”.
“Rõ ràng chúng ta cần phải đầu tư nhiều hơn. Rồi vấn đề chống xói mòn đất trong điều kiện biến đổi khí hậu, thiên tai như hiện nay rất rủi ro. Miền núi có tổng diện tích rộng nhưng diện tích canh tác, trồng cây và ở được mà an toàn không phải nhiều. Cho nên chúng ta phải có quy hoạch và chọn vùng rất kỹ, nếu không sẽ xảy ra chuyện liên quan đến sạt lở, rủi ro...”, PGS.TS Đào Thế Anh nêu thực tế.
Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam đang có dự án mạng lưới nông dân học hỏi về nông nghiệp sinh thái. “Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ mục tiêu, tập hợp kiến thức của tất cả các trường, viện, tổ chức phi chính phủ quốc tế và trong nước có kinh nghiệm tốt về phát triển nông nghiệp sinh thái ở miền núi. Đồng thời hợp tác với Trung tâm Khuyến nông Quốc gia để phát triển công cụ số nhằm chia sẻ rộng rãi hơn cho tất cả lực lượng khuyến nông cộng đồng của các tỉnh miền núi”, ông Thế Anh thông tin.
Tùy theo nhu cầu cụ thể, theo ông, chúng ta có thể thúc đẩy đào tạo với cách tiếp cận mới. Hiện nay nhu cầu rất cao ở miền núi là khai thác thế mạnh phát triển nông nghiệp sinh thái để làm du lịch nông thôn. Một số địa bàn ở miền núi Tây Bắc hoặc Đông Bắc, ngành du lịch thúc đẩy phát triển du lịch nhưng lại không song hành với hoạt động sản xuất nông nghiệp. Sản xuất nông nghiệp lại không định hướng để phục vụ cho du lịch cho nên không tập trung vào phát triển sản phẩm bản địa địa phương để phục vụ du lịch, chưa khai thác được hết tiềm năng du lịch.
“Sự đa dạng của miền núi về văn hóa, điều kiện sinh thái là một tiềm năng mà chúng ta phải tập trung giúp bà con khai thác. Đào tạo, tập huấn và chia sẻ kinh nghiệm để bà con tự học hỏi rất cần thiết để cấp địa phương nhanh chóng cập nhật thông tin, nhu cầu người tiêu dùng và chính sách”, ông Thế Anh nói.

Một vùng miền núi phía Bắc có cảnh quan tuyệt đẹp, được khách du khách yêu thích (Ảnh: Phạm Ngọc Triển).
Bắt buộc địa phương phải hợp tác với nhau để hình thành nên chuỗi giá trị số
Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam phản ánh các vùng như miền núi phía Bắc hay Tây Nguyên có nhiều sản phẩm để xuất khẩu như sầu riêng, chanh leo, cà phê… nhưng về mặt dịch vụ, hậu cần (logistics) hiện còn thiếu hụt.
“Chúng tôi nghĩ phải có chiến lược và phải có tư duy cấp vùng, chứ hiện nay chúng ta đang thiếu thể chế cấp vùng. Chúng ta cứ gọi là vùng nhưng ai điều hành khi chúng ta đang tổ chức theo các tỉnh? Cho nên ở đây chính là sự hợp tác, liên kết giữa các tỉnh với nhau”, ông Thế Anh phân tích.
Vấn đề logistics ở phía Bắc đã tương đối mạnh nhưng cần đầu tư tập trung vào các năng lực chuỗi ngay trên địa bàn miền núi và trung du để đảm bảo cân đối theo từng chuỗi. Ngoài ra, về vấn đề truy xuất nguồn gốc cần phải ứng dụng các công nghệ số. Khi ứng dụng công nghệ số sẽ thúc đẩy liên kết.
“Mã số vùng trồng hiện nay chúng ta mới ở bước một là đăng ký trên VNeID, nhưng bước sau là sẽ phải truy cập số. Khi đó, các doanh nghiệp logistics phục vụ cũng phải tham gia vào hệ thống, rồi cửa khẩu, xuất khẩu, các cơ quan quản lý nhà nước, các hợp tác xã cũng phải tham gia. Khi hình thành được hệ thống số như vậy, bắt buộc các địa phương phải hợp tác với nhau để hình thành nên chuỗi giá trị số như chúng ta vẫn đang thảo luận và hướng tới”, ông Thế Anh nhận định.

Chuyên gia Đào Thế Anh (Ảnh: Thành Đông).
Bài toán lớn về liên kết “bốn nhà”
Giải đáp thắc mắc liên quan đến tháo gỡ khó khăn và nâng cao hiệu quả mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp, nhà nông) phù hợp với trình độ vùng cao, PGS.TS Đào Thế Anh nói đây là bài toán lớn.
Bài toán lớn của liên kết “bốn nhà”, đặc biệt đối với miền núi trước đây đã có Nghị định 98/2018 về liên kết theo chuỗi giá trị. Tuy vậy, ở miền núi thì gặp khó khăn. Năng lực của cộng đồng địa phương còn yếu nên doanh nghiệp phải đầu tư quá nhiều.
Trong giai đoạn tới, để kết hợp với vấn đề bảo tồn sinh thái và bản sắc văn hóa địa phương, ông Thế Anh cho rằng cần phải thúc đẩy năng lực cho cộng đồng địa phương, đặc biệt thông qua các hợp tác xã hoặc tổ hợp tác.

PGS.TS Đào Thế Anh trao đổi tại tọa đàm do báo Dân trí tổ chức (Ảnh: Thành Đông).
“Việc thu hút doanh nghiệp lên miền núi liên quan đến vấn đề chúng ta đã trao đổi lúc nãy: Doanh nghiệp làm công tác xuất khẩu, cho nên phải tạo điều kiện cho họ có đất đai để xây dựng các trung tâm thu gom và sơ chế. Đấy cũng là một trong những yếu tố thu hút doanh nghiệp lên để kết nối chặt chẽ hơn. Còn việc giao đất cho doanh nghiệp sản xuất tại địa phương, kinh nghiệm chỉ ra là vẫn phải hợp tác với cộng đồng, sử dụng lực lượng lao động và tạo công ăn việc làm cho lực lượng lao động địa phương, chứ không phải chỉ làm một mình. Như thế thì nó mới bền vững được”, vị chuyên gia nêu quan điểm.
Đối với các nhà khoa học, PGS.TS Đào Thế Anh nhìn nhận “nông nghiệp là một dịch vụ công”. Chúng ta không thể vừa tự chủ lại vừa chuyển giao, bởi chuyển giao kiến thức cho đồng bào dân tộc miền núi phải miễn phí.
“Chuyển giao miễn phí thì Nhà nước cần phải đầu tư cho lực lượng cán bộ khoa học, cũng như ưu tiên các đề tài về nghiên cứu, đổi mới sáng tạo cho lĩnh vực miền núi để tạo đà phát triển. Sau khi phát triển lên đến giai đoạn nào đó, khi trình độ phát triển cao hơn, chúng ta mới có thể tính đến chuyện thu lại một phần kinh phí. Để thúc đẩy lực lượng cán bộ khoa học, đặc biệt là cán bộ khoa học trẻ năng động lên hợp tác với bà con miền núi để chuyển giao thì bắt buộc phải có sự đầu tư của Nhà nước”, PGS.TS Đào Thế Anh nhấn mạnh.