Bỏ qua điều hướng
•

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng

Bí ẩn giếng cổ ở xã đảo Đà Nẵng
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Giữa vùng biển đảo quanh năm nắng gió, nơi từng giọt nước ngọt quý hơn vàng, hai giếng cổ dưới chân núi Bàn Than ở Tam Hải vẫn trong veo, mát lành qua hàng trăm năm.

Nhiều mùa khô khắc nghiệt đi qua, những mạch nước ngầm chưa một lần cạn. Với người dân nơi đây, hai giếng không chỉ cứu khát cho bao thế hệ mà còn lưu giữ ký ức về những ngày đầu khai phá, đời sống làng biển và một nét văn hóa đang được trao truyền qua thời gian.

Mạch nước ngọt giữa đảo đá

Chiều muộn, nắng trên xã đảo Tam Hải (TP Đà Nẵng) vẫn hắt xuống gay gắt. Dưới chân núi Bàn Than, giữa không gian làng biển, từng người dân lặng lẽ tìm đến một chiếc giếng đá đã phủ màu thời gian.

ginge-co-gan-bo-voi-nhieu-the-he-nguoi-dan-xa-dao-tam-hai.jpg
Các thế hệ luôn gìn giữ, bảo tồn giếng cổ

Bà Ngô Thị Đức (66 tuổi, thôn Thuận An) lỉnh kỉnh những chiếc thùng treo hai bên chiếc xe đạp. Dừng bên thành giếng, bà thả gàu xuống làn nước trong veo, kéo lên rồi cẩn thận đổ vào từng thùng.

“Nước này dùng để ăn uống, còn nước ở nhà chỉ dùng để giặt giũ thôi. Từ bé đến giờ uống nước giếng cổ nên tui mới khỏe mạnh như này đây”, bà Đức cười giòn, tay vẫn thoăn thoắt kéo gàu.

Đó là công việc quen thuộc của bà và nhiều người dân Thuận An từ bao đời nay.

“Không chỉ là nguồn nước phục vụ sinh hoạt, hai giếng cổ còn gắn bó với đời sống văn hóa của cộng đồng ngư dân Tam Hải. Từ nhiều thế hệ nay, người dân vẫn giữ thói quen lấy nước giếng để ăn uống và đặt ra những quy ước nghiêm ngặt nhằm bảo vệ nguồn nước”. Ông Huỳnh Văn Cường, Chủ tịch UBND xã đảo Tam Hải

Hai giếng cổ nằm cách nhau khoảng 500 m, đều có dạng hình tròn, thành giếng xây bằng đá tổ ong. Không có tấm bia nào ghi năm xây dựng, cũng chưa có tài liệu đầy đủ để xác định chính xác niên đại, nhưng trong ký ức cộng đồng, hai công trình này đã hiện diện từ rất lâu, gắn với quá trình cư dân đến khai phá, sinh sống ở vùng đất Tam Hải.

Qua nhiều thế hệ, những viên đá trên thành giếng đã mang màu thời gian. Thế nhưng dưới lòng giếng, mạch nước vẫn trong, mát và ngọt. Hằng ngày, người dân vẫn đến múc nước mang về. Có những thời điểm nắng nóng kéo dài, nhiều giếng đào khác trên đảo thiếu nước, thậm chí cạn đáy, hai giếng cổ vẫn đầy nước.

Ông Huỳnh Văn Cường, Chủ tịch UBND xã đảo Tam Hải cho hay, với cư dân địa phương, hai giếng không đơn thuần là những công trình cung cấp nước sinh hoạt. Giếng đã trở thành một phần ký ức của làng biển.

Từ nhiều thế hệ, người dân vẫn giữ thói quen lấy nước giếng để ăn uống. Cộng đồng cũng hình thành những quy ước nhằm bảo vệ nguồn nước. Khu vực quanh giếng không được tắm giặt hoặc thực hiện các hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm.

“Không chỉ là nguồn nước phục vụ sinh hoạt, hai giếng cổ còn gắn bó với đời sống văn hóa của cộng đồng ngư dân Tam Hải. Từ nhiều thế hệ nay, người dân vẫn giữ thói quen lấy nước giếng để ăn uống và đặt ra những quy ước nghiêm ngặt nhằm bảo vệ nguồn nước”, ông Cường nói.

Trong ký ức của cư dân Thuận An, nước giếng cổ còn hiện diện trong căn bếp của mỗi gia đình. Người dân cho rằng nước giếng dùng pha trà khiến trà thơm hơn, nấu cơm giúp hạt cơm dẻo hơn.

Đặc biệt, nguồn nước này được sử dụng để chế biến xoa xoa - món ăn dân dã được xem là đặc sản xứ đảo - và nấu rượu gạo Tam Hải.

gieng-co-la-mot-trong-nhung-diem-ket-noi-chuoi-du-lich-tam-hai.jpg
Giếng cổ được người dân tự hào giới thiệu với khách đến thăm đảo

Bà Nguyễn Thị Lan, người dân thôn Thuận An, cho biết theo lời các bậc cao niên truyền lại, hai giếng được nuôi bởi mạch nước ngầm từ khu vực chân núi Bàn Than. “Trải qua nhiều đợt hạn hán, hai giếng vẫn có nước. Người dân ở đây quý nguồn nước này lắm”, bà Lan chia sẻ.

Trong những câu chuyện truyền khẩu, chúng có thể đã xuất hiện từ thời kỳ những cư dân đầu tiên tìm đến vùng đất này. Ông Trần Minh Tập, người dân thôn Thuận An, kể một câu chuyện được các thế hệ trước truyền lại rằng hai giếng có thể liên quan đến những thương nhân người Hoa từng giao thương với vùng Hội An xưa.

Trong những chuyến hải trình qua vùng biển Tam Hải, các thương nhân cần tìm nguồn nước ngọt phục vụ sinh hoạt nên lựa chọn khu vực dưới chân núi Bàn Than để đào giếng.

Giữa những lớp ký ức của người dân, nó gợi mở về một thời kỳ biển không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là con đường giao thương, đưa những cư dân và thương nhân đến với vùng đất ven biển này.

Giếng cổ mở hướng du lịch

Nếu những vách đá Bàn Than kể câu chuyện địa chất qua hàng trăm triệu năm, thì hai giếng cổ lại kể câu chuyện gần gũi hơn: câu chuyện về con người đã tìm đến, sinh sống và bám trụ giữa vùng biển đảo.

Ngày trước, giếng nước là nơi cung cấp nguồn nước quý giá cho cả cộng đồng. Nhưng đó cũng là nơi người làng gặp nhau mỗi ngày. Những gánh nước đi về, tiếng gọi nhau bên thành giếng, những câu chuyện về chuyến biển, chuyện mùa màng hay chuyện gia đình... cứ thế nối dài qua nhiều thế hệ.

Với cư dân làng biển, giếng vì thế không chỉ là một công trình nằm trên mặt đất. Đó là một không gian cộng đồng, nơi đời sống thường nhật được kết nối và ký ức được lưu giữ.

Ông Huỳnh Văn Cường cho rằng, giá trị của hai giếng cổ không chỉ nằm ở tuổi đời hay việc nguồn nước vẫn duy trì ổn định. Điều đáng quý hơn là những câu chuyện văn hóa gắn với quá trình hình thành và phát triển của địa phương.

Chính vì vậy, xã tiếp tục phối hợp với người dân bảo tồn, gìn giữ công trình, đồng thời bảo vệ cảnh quan và nguồn nước quanh giếng.

Tam Hải sở hữu quần thể danh thắng Bàn Than - Hòn Mang - Hòn Dứa với những vách đá đen đặc trưng, có giá trị địa chất lâu đời. Những khối đá, bờ biển, cảnh quan là những gì du khách có thể nhìn thấy bằng mắt. Còn giếng cổ đem đến một câu chuyện khác - câu chuyện về cách con người thích nghi với tự nhiên và tồn tại giữa một vùng đất mà nước ngọt từng quý hơn vàng.

Để phát huy giá trị di sản, địa phương dự kiến quảng bá hình ảnh của hai giếng cổ, kết nối với các giá trị văn hóa bản địa và quần thể danh thắng Bàn Than - Hòn Mang - Hòn Dứa để phát triển du lịch cộng đồng.

Những trải nghiệm tưởng như bình dị - tìm về giếng cổ, nghe người làng kể chuyện về nguồn nước, tìm hiểu những quy ước cộng đồng đã giúp bảo vệ giếng qua nhiều thế hệ, rồi thưởng thức những sản vật địa phương được làm từ chính nguồn nước này - có thể trở thành những sản phẩm du lịch riêng có của Tam Hải.

Qua nhiều mùa khô khắc nghiệt, hai giếng cổ ở xã đảo Tam Hải, thành phố Đà Nẵng, vẫn giữ được nguồn nước ngọt trong khi nhiều giếng khác thiếu nước. Với cư dân địa phương, đó không chỉ là nơi lấy nước sinh hoạt mà còn là một phần ký ức về làng biển và những ngày đầu khai phá. Dưới chân núi Bàn Than, người dân vẫn đều đặn tìm đến những thành giếng đá đã phủ màu thời gian, tiếp nối thói quen được gìn giữ qua nhiều thế hệ. Một buổi chiều nắng gắt, bà Ngô Thị Đức, 66 tuổi, ở thôn Thuận An, dừng chiếc xe đạp bên giếng với những chiếc thùng treo hai bên. Bà thả gàu xuống làn nước trong, kéo lên rồi cẩn thận rót vào từng thùng, làm công việc quen thuộc đã gắn bó với mình từ thuở nhỏ. Bà cho biết gia đình dùng nước giếng để ăn uống, còn nước lấy tại nhà chủ yếu dành cho giặt giũ, và vui vẻ kể mình đã uống nước ấy từ bé. Hai giếng nằm cách nhau khoảng 500 mét, đều có dáng tròn và thành xây bằng đá ong, nhưng hiện không có bia ghi năm dựng hay tài liệu xác định chính xác niên đại. Dẫu vậy, trong ký ức cộng đồng, những công trình này đã hiện diện từ rất lâu, gắn với quá trình cư dân đến khai phá rồi sinh sống trên đảo Tam Hải. Những viên đá trên thành giếng đã sẫm màu theo thời gian, nhưng nước bên dưới vẫn trong, mát, ngọt và được người dân mang về hằng ngày. Có những đợt nắng nóng kéo dài khiến các giếng đào khác trên đảo thiếu nước, thậm chí cạn đáy, nhưng hai giếng cổ vẫn đầy nước, theo lời người dân địa phương. Bà Nguyễn Thị Lan ở thôn Thuận An cho biết các bậc cao niên truyền lại rằng nguồn nước được nuôi bởi mạch ngầm từ khu vực chân núi Bàn Than. Qua nhiều đợt hạn hán, mạch nước vẫn bền bỉ, khiến cư dân thêm trân trọng và xem việc gìn giữ nguồn nước là trách nhiệm chung. Ông Huỳnh Văn Cường, Chủ tịch UBND xã đảo Tam Hải, cho biết hai giếng không đơn thuần phục vụ sinh hoạt mà còn gắn bó với đời sống văn hóa của cộng đồng ngư dân. Từ nhiều thế hệ, người dân duy trì thói quen lấy nước giếng để ăn uống và cùng hình thành những quy ước bảo vệ nguồn nước. Khu vực quanh giếng không được dùng để tắm giặt hay thực hiện hoạt động có nguy cơ gây ô nhiễm, nhằm giữ nguồn nước sạch cho cộng đồng. Trong căn bếp của nhiều gia đình Thuận An, nước giếng cổ vẫn được dùng pha trà, nấu cơm, chế biến xoa xoa và nấu rượu gạo Tam Hải. Người dân cho rằng trà pha bằng nước giếng thơm hơn, cơm nấu dẻo hơn, còn xoa xoa là món ăn dân dã được xem như đặc sản của xứ đảo. Những cách sử dụng ấy khiến giếng hiện diện không chỉ trong sinh hoạt thường nhật mà còn trong hương vị quen thuộc của đời sống địa phương. Nguồn gốc hai giếng chưa được xác định bằng tài liệu, nhưng những câu chuyện truyền khẩu vẫn góp thêm lớp ký ức về vùng đất ven biển này. Ông Trần Minh Tập, người dân thôn Thuận An, kể lại chuyện các thế hệ trước truyền rằng giếng có thể liên quan đến thương nhân người Hoa từng giao thương với vùng Hội An xưa. Theo câu chuyện ấy, trong những chuyến hải trình qua vùng biển Tam Hải, thương nhân cần nước ngọt nên chọn khu vực dưới chân núi Bàn Than để đào giếng. Câu chuyện chưa xác lập niên đại hay nguồn gốc chính xác, nhưng gợi nhắc thời biển vừa là nơi mưu sinh, vừa là tuyến giao thương đưa cư dân và thương nhân đến vùng ven bờ. Qua bao thế hệ, hai giếng vẫn cung cấp nước, đồng thời lưu giữ những tập quán và ký ức được người dân kể lại trong đời sống cộng đồng. Người dân tự hào giới thiệu giếng cổ với khách đến thăm đảo, như một dấu tích địa phương gắn với thiên nhiên, lịch sử truyền khẩu và nếp sống làng biển.