Bỏ qua điều hướng

Bộ Công Thương cảnh báo nguy cơ thiếu điện từ năm 2027

Bộ Công Thương cảnh báo nguy cơ thiếu điện từ năm 2027
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Điện năm 2026 cơ bản đáp ứng nhu cầu, nhưng những năm tới có thể thiếu hụt nếu các dự án nguồn và lưới tiếp tục chậm tiến độ. Theo tính toán của Bộ Công Thương, mức thiếu điện dự báo tăng từ 2,9 tỷ kWh năm 2027 lên 61,18 tỷ kWh vào năm 2030. Bộ Công Thương giảm còn 21 đầu mối, tổ chức lại nhiều đơn ...

Miền Bắc chịu sức ép sớm

Trong báo cáo hỏa tốc gửi Thủ tướng về bảo đảm cung ứng điện giai đoạn 2026-2030, Bộ Công Thương dự kiến sản lượng điện sản xuất năm nay đạt 354,4 tỷ kWh, tăng khoảng 9,7% so với năm trước. Cơ quan này đánh giá hệ thống điện năm 2026 cơ bản đáp ứng nhu cầu.

Tuy nhiên, kết quả tính toán cập nhật cho thấy nguy cơ thiếu hụt tăng nhanh từ năm 2027. Hệ thống điện quốc gia được dự báo thiếu khoảng 4.256 MW công suất và 2,9 tỷ kWh sản lượng trong năm này. Đến năm 2028, mức thiếu hụt tăng lên 8.309 MW và 20,7 tỷ kWh; năm 2029 là 13.348 MW và 50,4 tỷ kWh. Đến năm 2030, hai con số lần lượt lên tới 13.964 MW và 61,18 tỷ kWh.

Miền Bắc chịu sức ép rõ nhất trong những năm đầu. Khu vực này được dự báo thiếu 5.680 MW công suất năm 2027 và 9.678 MW năm 2028. Đến năm 2030, sản lượng điện thiếu hụt tại miền Bắc có thể lên tới 44,65 tỷ kWh.

7-dien-luc-mien-bac-cung-cap-dien-cho-nhung-dia-phuong-nao-58020.jpg
Miền Bắc được dự báo thiếu 5.680 MW công suất năm 2027 và 9.678 MW năm 2028.

Theo Bộ Công Thương, nguyên nhân lớn là tiến độ các dự án nguồn điện không theo kịp quy hoạch. Sau hơn ba năm triển khai Quy hoạch điện VIII, công suất các dự án đã vận hành mới chiếm khoảng 5% tổng công suất dự án được rà soát; dự án đã khởi công nhưng chưa vận hành chiếm khoảng 9%. Trong khi đó, khoảng 45% công suất thuộc các dự án chưa có chủ trương đầu tư.

Việc chấp thuận đầu tư, chọn nhà đầu tư và chuẩn bị dự án tại nhiều địa phương kéo dài. Không ít dự án còn vướng vốn, đất đai, thủ tục và hợp đồng mua bán điện. Các dự án điện khí LNG gặp thêm khó khăn khi thu xếp tài chính, đàm phán hợp đồng và đối mặt với giá khí nhập khẩu biến động mạnh.

Lưới truyền tải cũng là một nút thắt. Tiến độ xây dựng các công trình đưa điện từ miền Trung và Tây Bắc về trung tâm phụ tải phía Bắc còn nhiều rủi ro. Nếu nhà máy hoàn thành nhưng đường dây chưa vận hành, điện vẫn khó đến được nơi đang cần dùng.

Tăng nguồn nhanh, gỡ nút thắt lưới điện

Để giảm nguy cơ thiếu điện trong hai năm 2027-2028, Bộ Công Thương đề xuất đẩy nhanh điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ tại cơ quan công sở, bệnh viện, trường học và khu công nghiệp; kết hợp pin lưu trữ để giảm lượng điện lấy từ lưới vào giờ cao điểm. Mục tiêu hoàn thành khoảng 2.800 MW điện mặt trời mái nhà tại các cơ sở do Nhà nước quản lý trước tháng 6/2027, đồng thời bổ sung khoảng 2.000-3.000 MW pin lưu trữ điện phục vụ giai đoạn 2027-2028.

Bộ Công Thương cũng kiến nghị bảo đảm tiến độ khoảng 700 MW điện nhập khẩu từ Lào năm 2027 và 1.700 MW năm 2028; khẩn trương hoàn thành đường dây hướng Móng Cái để tiếp nhận khoảng 600 MW điện từ Trung Quốc trước ngày 31/3/2027. Với các dự án đã có chủ trương đầu tư và được chọn nhà đầu tư, báo cáo đề xuất đưa vào vận hành 1.000 MW điện mặt trời tập trung năm 2027; đến năm 2028 bổ sung 3.000 MW điện mặt trời và 2.000 MW điện gió trên bờ, gần bờ.

dien-khi.jpg
Các dự án điện khí LNG đều gặp vướng mắc, dẫn đến nguy cơ thiếu nguồn. Ảnh: GAS.

Các công trình truyền tải cấp điện cho miền Bắc phải theo kịp nguồn mới. Bộ Công Thương kiến nghị đẩy nhanh lưới giải tỏa công suất điện từ Quảng Trị ra phía Bắc, các trục truyền tải từ Tây Bắc về trung tâm phụ tải và những công trình tiếp nhận điện nhập khẩu. Cơ quan này cũng đề xuất nghiên cứu cơ chế giá truyền tải để thu hút thêm nguồn lực đầu tư lưới điện.

Ở phía sử dụng điện, Bộ Công Thương đề xuất dịch chuyển, điều chỉnh khoảng 3.000 MW phụ tải ra khỏi giờ cao điểm; tiết kiệm điện tối thiểu 3% và tăng mức tiết kiệm trong các tháng nắng nóng. Đây là những giải pháp nhằm giảm sức ép trước mắt, trong khi nguồn điện và đường dây mới cần thời gian hoàn thành.

Với giai đoạn 2029-2030, một kiến nghị đáng chú ý là xem xét bổ sung các dự án nhiệt điện than gần trung tâm phụ tải, phấn đấu đưa khoảng 5.300 MW nguồn điện than mới vào vận hành năm 2030, đi kèm lộ trình lắp đặt hệ thống thu giữ carbon. Các dự án điện khí LNG chậm tiến độ được đề xuất chuyển sang giai đoạn sau năm 2031-2035.

Miền Bắc chịu sức ép sớm và nghiêm trọng nhất, với mức thiếu công suất dự kiến 5.680 MW năm 2027, tăng lên 9.678 MW năm 2028; đến năm 2030, sản lượng thiếu hụt có thể đạt 44,65 tỷ kWh. Rủi ro này phản ánh sự chậm trễ đồng thời của nguồn điện và lưới truyền tải, đặc biệt tại các công trình đưa điện từ miền Trung và Tây Bắc về trung tâm phụ tải phía Bắc. Sau hơn ba năm triển khai Quy hoạch điện VIII, các dự án đã vận hành mới chiếm khoảng 5% tổng công suất được rà soát, trong khi nhóm đã khởi công nhưng chưa vận hành chiếm khoảng 9% và khoảng 45% công suất chưa có chủ trương đầu tư. Nhiều dự án bị kéo dài bởi thủ tục, vốn, đất đai và hợp đồng mua bán điện; riêng điện khí LNG còn gặp khó trong thu xếp tài chính, đàm phán hợp đồng và ứng phó biến động giá khí nhập khẩu. Nếu nhà máy hoàn thành nhưng đường dây chưa vận hành, nguồn điện bổ sung vẫn không thể giải quyết thiếu hụt tại nơi có nhu cầu cao. Để giảm áp lực giai đoạn 2027-2028, Bộ Công Thương đề xuất hoàn thành khoảng 2.800 MW điện mặt trời mái nhà tại các cơ sở do Nhà nước quản lý trước tháng 6/2027, đồng thời bổ sung 2.000-3.000 MW pin lưu trữ. Kế hoạch còn gồm nhập khẩu 700 MW điện từ Lào năm 2027 và 1.700 MW năm 2028, tiếp nhận khoảng 600 MW từ Trung Quốc qua đường dây hướng Móng Cái trước ngày 31/3/2027. Việc bổ sung 1.000 MW điện mặt trời tập trung năm 2027, cùng 3.000 MW điện mặt trời và 2.000 MW điện gió năm 2028, chỉ phát huy hiệu quả nếu các công trình truyền tải được triển khai đồng bộ.