Bỏ qua điều hướng

Bỏ điểm cộng IELTS: Thay đổi có đồng nghĩa với cải thiện?

Bỏ điểm cộng IELTS: Thay đổi có đồng nghĩa với cải thiện?
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Cuộc tranh luận về dự thảo của Bộ GD-ĐT bỏ chính sách cộng điểm với thí sinh có chứng chỉ IELTS trong xét tuyển đại học, có thể áp dụng từ năm 2027, vẫn đang được tranh luận sôi nổi.

Ông Lê Hoàng Phong, học giả Chevening, thạc sĩ ngành Lãnh đạo giáo dục tại Đại học UCL, hiện đang học cao học ngành Khoa học về giáo dục giáo viên tại Đại học Oxford (Vương Quốc Anh), gửi tới Báo Thanh Niên những góc nhìn của ông.

Vấn đề mà cuộc tranh luận về điểm cộng IELTS hiện nay cần đi sâu hơn

Mới đây, số liệu từ Bộ GD-ĐT công bố, cho thấy, ví dụ một ngành tuyển sinh đại học chỉ sử dụng tổ hợp toán, vật lý và hóa học. Trong nhóm 184 thí sinh có chứng chỉ quốc tế được cộng điểm vào ngành này, hơn 70% có điểm 3 môn thấp hơn mức trúng tuyển 28,25 nếu chưa tính điểm cộng; sau khi cộng, tỷ lệ không đạt mức ấy chỉ còn khoảng 16 đến 17%.

Dữ liệu trên không cho thấy một thí sinh cụ thể đã lấy chỗ của một thí sinh khác, nhưng mức dịch chuyển đủ lớn để đặt ra một câu hỏi quan trọng hơn chuyện IELTS nên được cộng bao nhiêu điểm: Nếu năng lực ngoại ngữ thực sự cần thiết để học tốt ngành này, tại sao nó không được đặt minh bạch trong yêu cầu đầu vào ngay từ đầu mà lại xuất hiện dưới dạng một lợi thế bổ sung có khả năng thay đổi thứ tự thí sinh?

Bỏ điểm cộng IELTS: Điều cần bàn là thay đổi có đồng nghĩa với cải thiện?  - Ảnh 1.

Học sinh trung học TP.HCM năm học 2026 - 2027

ẢNH MINH HỌA: NHẬT THỊNH

Đây chính là điểm mà cuộc tranh luận hiện nay cần đi sâu hơn. Vấn đề của một hệ thống tuyển sinh không chỉ nằm ở việc nó sử dụng tiêu chí nào, mà còn ở mức độ nhất quán giữa 3 câu hỏi rất cơ bản: Chương trình muốn tuyển người học có những năng lực gì?; Phương thức tuyển sinh thực sự đo những năng lực nào?; Công thức tính điểm cuối cùng đang tưởng thưởng cho điều gì?

Khi 3 câu trả lời không trùng nhau, hệ thống có thể rất chính xác về mặt tính toán nhưng vẫn thiếu nhất quán về mặt giáo dục.

Nếu một ngành tuyên bố coi 3 môn toán, vật lý và hóa học là căn cứ lựa chọn nhưng lại để một chứng chỉ nằm ngoài 3 môn ấy tạo ra lợi thế đáng kể thì điều cần giải thích không phải là chứng chỉ có giá trị hay không, mà là vì sao lại cho chứng chỉ những giá trị đó?

Theo dự thảo, Bộ GD-ĐT không đề xuất loại chứng chỉ ngoại ngữ khỏi tuyển sinh, mà hướng tới không còn khoản điểm cộng bổ sung do từng cơ sở đào tạo tự quy định. Nếu ngoại ngữ là năng lực đầu vào cần thiết, chứng chỉ vẫn có thể được quy đổi thành điểm môn ngoại ngữ hoặc được sử dụng để chứng minh yêu cầu của chương trình. 

Sự thay đổi này đã chạm tới một nguyên tắc quan trọng của thiết kế tuyển sinh: Năng lực nào cần thiết thì nên được đặt vào cấu trúc đánh giá chính thức; còn nếu một năng lực không nằm trong cấu trúc ấy, việc trao cho nó thêm quyền lực thì cần một căn cứ đặc biệt thuyết phục.

Ủng hộ việc xem xét lại điểm cộng IELTS, nhưng cần giải quyết những vấn đề gốc rễ

Xóa chính sách điểm cộng (trong đó có điểm cộng với chứng chỉ ngoại ngữ như IELTS) có thể loại bỏ một biểu hiện cụ thể, nhưng chưa chắc đã xử lý được những điều kiện từng khiến cơ chế đó hình thành và trở nên phổ biến.

Trước hết, các trường đại học hiện nay vẫn phải cạnh tranh để thu hút người học; đồng thời, học sinh vẫn tìm kiếm những yếu tố có thể gia tăng cơ hội trúng tuyển, còn phụ huynh vẫn có xu hướng đầu tư thời gian và tiền bạc vào những gì hệ thống phát tín hiệu là có giá trị.

Những động lực ấy không biến mất cùng với một thay đổi trong quy chế. Khi một lợi thế bị loại bỏ, các chủ thể trong hệ thống có thể chuyển sang những cách khác để đạt cùng mục tiêu.

Vì vậy, nếu cải cách chỉ chấm dứt điểm cộng IELTS mà không đồng thời xác định rõ tiêu chí nào được phép tạo ra lợi thế tuyển sinh, lợi thế ấy phải liên quan thế nào đến yêu cầu của chương trình và được kiểm soát ra sao, thì cùng một vấn đề hoàn toàn có thể trở lại dưới một hình thức mới.

Đó là lý do quyền tự chủ tuyển sinh cần được hiểu như một vấn đề về năng lực quản trị chứ không chỉ là phạm vi quyền hạn.

Do đó, Bộ GD-ĐT có thể yêu cầu một trường, trước khi sử dụng một tiêu chí nào trong tuyển sinh, phải giải thích tiêu chí ấy đo điều gì, liên quan thế nào đến việc học trong chương trình và vì sao mức ảnh hưởng được lựa chọn là hợp lý.

Quan trọng hơn, sau một số khóa tuyển sinh, trường phải có khả năng quay lại kiểm tra liệu tiêu chí đó có thực sự giúp lựa chọn được những sinh viên phù hợp hơn hay không. Tự chủ mà thiếu cơ chế nhìn lại hậu quả rất dễ trở thành quyền thiết kế công thức; tự chủ trưởng thành hơn phải bao gồm cả nghĩa vụ học từ chính những quyết định mà cơ sở đào tạo đã đưa ra.

Bỏ điểm cộng IELTS: Điều cần bàn là thay đổi có đồng nghĩa với cải thiện?  - Ảnh 2.

Ông Lê Hoàng Phong, tác giả bài viết

ẢNH: TÁC GIẢ CUNG CẤP

Quá trình chuyển tiếp cũng cần được nhìn nhận. Học sinh tuyển sinh đại học vào năm 2027 thì đã học IELTS từ lớp 10 hoặc lớp 11. Nên khi hệ thống thay đổi tín hiệu, hệ thống cũng cần cho người học đủ thời gian để hiểu tín hiệu mới, và điều chỉnh quyết định. Nếu không, chi phí của cải cách sẽ không phân bổ đồng đều mà tập trung nhiều hơn vào những người đang ở điểm chuyển tiếp.

Do đó, năm 2027 không nên được xem là điểm kết thúc của cải cách mà là thời điểm bắt đầu kiểm chứng những giả định đứng sau cải cách.

Nếu bỏ điểm cộng nhằm làm tuyển sinh nhất quán và thực chất hơn, Bộ và các trường cần quan sát liệu những khác biệt khó giải thích giữa các phương thức có thực sự giảm hay không, thí sinh có hiểu rõ hơn vì sao mình được hoặc không được lựa chọn hay không, và các tiêu chí đầu vào có phản ánh tốt hơn khả năng đáp ứng chương trình hay không.

Với những ngành đặt ngoại ngữ thành yêu cầu, trường cũng có thể kiểm tra liệu mức năng lực được yêu cầu có thực sự liên quan đến kết quả học tập sau nhập học không? Chỉ khi những bằng chứng đó xuất hiện, chúng ta mới có cơ sở nói rằng hệ thống đã được cải thiện thay vì chỉ được thiết kế lại.

Bởi vậy, tôi ủng hộ việc xem xét lại điểm cộng IELTS, nhưng sẽ thận trọng với cách hiểu quá đơn giản rằng bỏ được điểm cộng đồng nghĩa đã giải quyết được vấn đề.

Trong lãnh đạo giáo dục, cải thiện không được đo bằng số lượng quy định mới được ban hành, mà bằng việc khoảng cách giữa điều mà sự cải cách muốn đạt tới và điều mà nó thật sự tạo ra, xem có thu hẹp hay không.

Do đó, nếu từ 2027 chính thức bỏ điểm cộng IELTS, thì câu hỏi sau đó không phải là điểm cộng này đã biến mất hay chưa. Chúng ta cần giải đáp được 3 câu hỏi: Tuyển sinh đại học có lựa chọn được người học bằng những năng lực mà chương trình thực sự cần hay chưa? Tuyển sinh có theo những quy tắc mà trường có thể giải thích hay chưa? Và có những bằng chứng mà xã hội có thể kiểm chứng hay chưa?

Đến khi có đáp án cho cả 3 câu hỏi, chúng ta mới biết mình đã thực sự cải thiện hệ thống hay mới chỉ thay đổi luật chơi.

Cuộc tranh luận về việc bỏ điểm cộng IELTS trong tuyển sinh đại học đang mở ra câu hỏi rộng hơn chuyện chứng chỉ ngoại ngữ nên được cộng bao nhiêu điểm. Theo góc nhìn ông Lê Hoàng Phong, học giả Chevening, thạc sĩ Lãnh đạo giáo dục tại UCL, hiện học cao học Khoa học về giáo dục giáo viên tại Oxford, trọng tâm nằm ở sự nhất quán của cả hệ thống. Bởi một thay đổi trong công thức tính điểm chỉ thật sự cải thiện tuyển sinh khi nó đồng thời làm rõ năng lực cần tuyển, cách đo lường năng lực ấy và giá trị cuối cùng được trao. Số liệu Bộ GD-ĐT công bố cho thấy tại một ngành chỉ sử dụng tổ hợp toán, vật lý và hóa học, nhóm 184 thí sinh có chứng chỉ quốc tế đã tạo ra dịch chuyển đáng chú ý. Hơn 70% trong nhóm này có tổng điểm ba môn thấp hơn mức trúng tuyển 28,25 nếu chưa tính điểm cộng, nhưng sau khi cộng, tỷ lệ không đạt mức ấy giảm xuống khoảng 16 đến 17%. Dữ liệu chưa đủ để khẳng định một thí sinh cụ thể đã lấy chỗ của thí sinh khác, nhưng quy mô dịch chuyển vẫn đặt ra vấn đề cần được giải thích thẳng thắn. Nếu ngoại ngữ thật sự cần thiết để người học theo kịp chương trình, câu hỏi quan trọng là vì sao năng lực ấy không được đưa minh bạch vào yêu cầu đầu vào ngay từ đầu. Khi chứng chỉ nằm ngoài ba môn toán, vật lý và hóa học lại tạo lợi thế đủ lớn để thay đổi thứ tự thí sinh, hệ thống phải giải thích căn cứ của mức giá trị đó. Vấn đề vì thế không đơn giản là IELTS có giá trị hay không, mà là giá trị ấy có phù hợp với ngành học, phương thức tuyển sinh và mục tiêu đào tạo hay không. Một hệ thống tuyển sinh nhất quán cần trả lời đồng thời ba câu hỏi: chương trình muốn tuyển người học sở hữu năng lực nào, phương thức đang đo năng lực nào và công thức cuối cùng đang tưởng thưởng điều gì. Nếu ba câu trả lời không trùng nhau, phép tính điểm vẫn có thể chính xác về kỹ thuật nhưng kết quả lại thiếu nhất quán về giáo dục. Một ngành tuyên bố lựa chọn dựa trên toán, vật lý và hóa học nhưng trao ưu thế đáng kể cho chứng chỉ bên ngoài cấu trúc ấy cần làm rõ logic tuyển chọn của mình. Theo dự thảo được đề cập, Bộ GD-ĐT không định loại chứng chỉ ngoại ngữ khỏi tuyển sinh, mà hướng tới chấm dứt khoản điểm cộng bổ sung do từng cơ sở đào tạo tự quy định. Trong trường hợp ngoại ngữ là năng lực đầu vào cần thiết, chứng chỉ vẫn có thể được quy đổi thành điểm môn ngoại ngữ hoặc dùng để chứng minh người học đáp ứng yêu cầu chương trình. Cách tiếp cận này đặt năng lực cần thiết vào cấu trúc đánh giá chính thức, thay vì để một tiêu chí bên ngoài âm thầm tạo thêm quyền lực trong cuộc đua điểm số. Việc xem xét lại điểm cộng IELTS có cơ sở, nhưng xóa một cơ chế cụ thể chưa chắc xử lý được những điều kiện khiến cơ chế ấy hình thành và phổ biến. Các trường đại học vẫn cạnh tranh thu hút người học, học sinh vẫn tìm lợi thế trúng tuyển, còn phụ huynh vẫn đầu tư vào những tín hiệu mà quy chế phát đi. Khi điểm cộng bị loại bỏ, những động lực ấy không biến mất, mà có thể thúc đẩy các chủ thể tìm một phương thức khác để đạt cùng mục tiêu. Vì vậy, nếu cải cách chỉ dừng ở việc chấm dứt điểm cộng IELTS mà không xác định tiêu chí nào được phép tạo lợi thế, vấn đề cũ có thể quay lại dưới hình thức mới. Mỗi lợi thế tuyển sinh cần liên quan rõ ràng đến yêu cầu của chương trình, có mức ảnh hưởng hợp lý và được kiểm soát bằng những tiêu chuẩn minh bạch. Quyền tự chủ tuyển sinh cũng cần được nhìn như năng lực quản trị, không chỉ như phạm vi quyền hạn mà trường đại học được trao. Từ đó, Bộ GD-ĐT có thể yêu cầu cơ sở đào tạo giải thích trước khi sử dụng một tiêu chí tuyển sinh rằng tiêu chí ấy đo năng lực gì và liên quan thế nào đến việc học. Nhà trường cũng cần nêu rõ vì sao mức ảnh hưởng được lựa chọn là hợp lý, thay vì chỉ công bố công thức rồi để thí sinh tự chấp nhận kết quả. Sau một số khóa tuyển sinh, trường phải có khả năng kiểm tra lại hiệu quả của tiêu chí, qua đó bảo đảm thay đổi chính sách thực sự là cải thiện chứ không chỉ đổi cách cộng điểm.