Thành lập năm 1858, hãng dầu mè Kadoya Sesame Mills (Nhật Bản) đã chứng kiến đất nước thay đổi qua nhiều thế hệ, tồn tại qua các cuộc chiến tranh thế giới và thời kỳ bong bóng tài sản. Nhưng hiện tại, sau hơn hai thập kỷ niêm yết trên sàn Jasdaq, Kadoya chuẩn bị rời sàn thông qua thương vụ bán lại cho quỹ đầu tư tư nhân Integral. Việc này diễn ra trong bối cảnh họ phải đối phó với chi phí nguyên liệu thô và rủi ro địa chính trị tăng cao.
Trên CNBC, giới chuyên gia cho biết những doanh nghiệp lâu đời của Nhật Bản gặp nhiều thách thức, từ thị trường nội địa thu hẹp, thiếu hụt lao động và khó khăn trong tìm người kế nhiệm. Theo hãng dữ liệu Teikoku Databank, số vụ phá sản của doanh nghiệp Nhật Bản đã tồn tại hơn 100 năm đang tăng với tốc độ kỷ lục, lên tới 112 vụ trong 8 tháng đầu năm.
Nhật Bản nổi tiếng với các doanh nghiệp lâu đời. New York Times năm 2020 cho biết quốc gia này là quê hương của hơn 33.000 công ty có tuổi đời từ 100 năm trở lên. Hơn 3.100 doanh nghiệp đã tồn tại ít nhất 200 năm. Khoảng 140 công ty đã hoạt động hơn 500 năm và ít nhất 19 đơn vị có tuổi đời cả nghìn năm.
Shigeto Nagai - trưởng bộ phận kinh tế Nhật Bản tại Oxford Economics, cho biết các doanh nghiệp trăm tuổi của Nhật Bản duy trì sự thịnh vượng nhờ tầm nhìn dài hạn từ mô hình sở hữu gia đình, sự gắn bó với cộng đồng địa phương và nguyên tắc kinh doanh trong khả năng tài chính. Lịch sử lâu đời và nhiều năm tích lũy vốn cũng giúp các doanh nghiệp này có bảng cân đối kế toán lành mạnh và biên lợi nhuận ổn định.
"Tuy nhiên, họ ngày càng lo ngại sẽ không thể duy trì lợi nhuận cao trong dài hạn và công ty dần suy yếu", Nagai nói.
Harumi Taguchi - nhà kinh tế học tại S&P Global Market Intelligence cho biết chi phí tăng và thiếu lao động trở thành thách thức lớn với các doanh nghiệp Nhật Bản sau đại dịch. "Dù lạm phát giúp họ dễ chuyển phần chi phí phát sinh sang khách hàng hơn so với thời kỳ giảm phát, nhiều doanh nghiệp vẫn không thể tăng giá bán tương ứng", Taguchi giải thích.
Bà cho biết các doanh nghiệp quy mô nhỏ và chủ yếu phục vụ thị trường nội địa, vốn đặc biệt khó hấp thụ chi phí phát sinh, do nền tảng doanh thu yếu hơn. Khả năng định giá vì thế là yếu tố then chốt quyết định công ty nào có thể thích ứng.
Công nhân trong một nhà máy ở Higashiosaka tháng 6/2022. Ảnh: Reuters
Theo Teikoku Databank, số vụ phá sản liên quan đến giá cả đã tăng gần 24% lên 556 vụ trong nửa đầu năm nay. Trong khi đó, số doanh nghiệp đóng cửa vì thiếu lao động tăng hơn 12%, lên 227.
Sube Shoten - nhà sản xuất đậu phụ thành lập năm 1877 đã ngừng hoạt động hồi tháng 5 và chuẩn bị nộp đơn xin phá sản. Nguyên nhân là biên lợi nhuận thấp và chi phí nguyên liệu thô gần đây tăng mạnh.
Nagai cho biết thách thức lớn khác là cạnh tranh trong nước ngày càng gay gắt và lao động thiếu hụt trong bối cảnh tỷ lệ sinh giảm và dân số già hóa. Mở rộng ra nước ngoài cũng là rào cản với các doanh nghiệp lâu đời, khi thị trường nội địa - vốn là nguồn doanh thu ổn định - ngày càng thu hẹp.
Việc tìm người kế nhiệm cũng là nút thắt lớn. Theo Teikoku Databank, số vụ phá sản do thiếu người kế nhiệm tăng gần 17% so với cùng kỳ năm ngoái, lên 312 vụ trong nửa đầu năm 2026.
Theo ông Paul Aversano, CEO tại hãng tư vấn Alvarez & Marsal, đồng yen yếu, sức ép từ cổ đông cùng thế bế tắc trong tìm người kế vị đang buộc nhiều nhà sáng lập phải tính lại tương lai doanh nghiệp. Ngoài ra, họ còn chịu sức ép từ lạm phát, thuế nhập khẩu, chi phí lao động và lãi suất tăng.
"Sự kết hợp của các yếu tố trên, chứ không phải vấn đề riêng lẻ nào, sẽ tác động đến quyết định của họ trong tương lai", Aversano kết luận.
Hà Thu (theo CNBC)