- Thưa ông, nhìn lại kỳ ASIAD 20 vừa qua, ông đánh giá nấc thang này đóng vai trò như thế nào trong chặng đường phát triển thể thao Việt Nam sắp tới?
Chúng ta cần phải nhìn nhận thẳng thắn, đầu tư tổng thể trước hết là chăm lo thể chất cho vận động viên, nhất là chế độ dinh dưỡng để họ nhích dần theo khối lượng lớn hơn, sau đó là quá trình hồi phục và phải có ứng dụng công nghệ. Có như vậy mới yêu cầu vận động viên tập với cường độ cao để đáp ứng thành tích.
Giải pháp trước mắt là mời các chuyên gia dinh dưỡng đến làm việc tại các trung tâm, phân tích và đánh giá khẩu phần phù hợp với tất cả vận động viên đang tập huấn ở các đội tuyển quốc gia, theo nhu cầu huấn luyện. Tiếp đến, chúng tôi mời chuyên gia cho từng môn, từng đội tuyển, cùng huấn luyện viên đánh giá lượng vận động có phù hợp với quá trình tập luyện hay không, qua đó tính toán hiệu quả chi tiết trong từng buổi tập. Từ đó, Cục cũng sẽ cân đối các nguồn lực để tháo gỡ khó khăn.
- Ngành thể thao sẽ dựa vào cơ sở và dữ liệu nào để đặt ra mục tiêu trong thời gian tới?
- Với tất cả các giải đấu và Đại hội, chúng tôi đều đặt mục tiêu cụ thể, vì đối thủ đã được định hình qua các giải đấu mà chúng tôi theo dõi. Trừ một số trường hợp cá biệt (nhập tịch...), chưa có thông tin, dữ liệu, còn lại các vận động viên trong khu vực Đông Nam Á chúng tôi đều nắm rõ. Huấn luyện viên và các Liên đoàn đều có thông số của các đối thủ, các đội trong khu vực. Chúng tôi nhìn nhận rõ điểm xuất phát của mình trong thời điểm đó, chứ không lấy thành tích của kỳ đại hội trước để cân đối mục tiêu, vì làm như vậy là không đúng. Có những trường hợp, chúng tôi xác định nếu vào đến trận chung kết thì phần thắng là bao nhiêu.
Cục không đặt mục tiêu chung cho bộ môn, mà xét trên năng lực của từng vận động viên, cân đối theo những tiêu chí khoa học để định hướng mục tiêu xa hơn và từng bước nâng tầm năng lực. Có những vận động viên là số một Đông Nam Á, nhưng từ đó đến tầm vóc huy chương châu Á còn rất xa. Chúng tôi phải lượng hóa được nhân tố ấy có đủ khả năng cạnh tranh không, hay chỉ dừng ở đỉnh khu vực, để quyết định đầu tư.
Cũng cần nói thêm, ở nhiều kỳ đại hội, ban tổ chức không tổ chức đủ nội dung của các môn thế mạnh của chúng ta. Nếu đủ nội dung, những môn như vật vẫn là thế mạnh của chúng ta ở khu vực.
Nhìn nhận tổng thể, các bộ môn thường tuyển chọn khoảng 30 đến 50 vận động viên trẻ, rồi sàng lọc dần lên đội tuyển. Trong suốt quá trình, chúng tôi theo dõi hằng tháng, hằng năm, từ bài tập, dinh dưỡng, chế độ sinh hoạt và phát triển thể chất của mỗi người, xem có đáp ứng được năng lực mong muốn hay không. Đó chính là dữ liệu của vận động viên xuyên suốt quãng đời thi đấu. Chúng tôi đang triển khai, nhưng cần hệ thống hóa một cách khoa học, theo dõi từ lúc tập luyện ở địa phương (các nhóm năng khiếu), đến đội trẻ các tỉnh, thành phố, rồi các lứa trẻ quốc gia và đội tuyển quốc gia.
- Trong 5 năm tới, ông hình dung quá trình đào tạo vận động viên sẽ có những thay đổi như thế nào trong ứng dụng khoa học-công nghệ khác biệt?
- Hiện nay, các nước đã ứng dụng khoa học-công nghệ vào quá trình đào tạo huấn luyện vận động viên. Đó không phải điều gì quá đặc biệt mà chúng ta không làm được. Vấn đề là ứng dụng thế nào.
Cơ thể mỗi người phản ứng với vận động khác nhau. Thí dụ, hai người cùng chạy 100m, nhưng người trẻ hơn thường hồi phục tốt hơn, nên lượng tập và khẩu phần của họ phải khác nhau. Khả năng hồi phục, cường độ hay khối lượng tập luyện đều được phản ánh qua nhiều chỉ số. Huấn luyện viên căn cứ chỉ số để điều chỉnh lượng vận động, chuyên gia dinh dưỡng dựa vào chỉ số để tính khẩu phần. Các yếu tố này kết hợp với nhau sẽ ra bài toán thể lực, từ đó tính được khả năng cải thiện thành tích.
Tuy nhiên, mỗi cơ thể, mỗi môn có nhu cầu khác nhau, nên phải định lượng, theo dõi thường xuyên và đúc kết. Người điều chỉnh cuối cùng là huấn luyện viên, với sự hỗ trợ của chuyên gia dinh dưỡng, y học. Khi kết hợp được các yếu tố đó, các vận động viên chắc chắn sẽ có tiến bộ.
Hiện tại, có nhiều máy đo được khoảng 70 đến 80 chỉ số của cơ thể. Chúng ta đã làm rồi, nhưng chưa phổ biến rộng đến từng vận động viên, chứ không phải chưa từng làm. Quan trọng, người đo và người dùng số liệu phải ăn khớp với nhau. Đây là một trong những giải pháp bắt buộc phải triển khai trong tương lai gần.
- Đầu tư trọng điểm nghĩa là phải quyết liệt lựa chọn bộ môn phù hợp, và phải thuyết phục được những môn không nằm trong nhóm ấy. Tư duy này liệu có tạo ra lực cản nào trong ngành thể thao không, thưa ông?
- Hoàn toàn không. Việc lựa chọn các môn đầu tư đều rất logic. Ngay như bóng đá, chúng ta xác định mục tiêu là lọt vào top 8 châu Á ở thời điểm này, chứ không thể nói bóng đá Việt Nam phấn đấu vượt lên nhóm đứng đầu.
Với vật, ở đấu trường khu vực, chúng ta gần như có thể giành trọn bộ huy chương ở tất cả nội dung, chỉ khi sơ sẩy mới mất một, hai Huy chương vàng. Chúng tôi đang lựa chọn được những vận động viên tốt nhất. Bắn súng cũng từng giành được nhiều thành tích, nhưng không đồng nghĩa thế hệ tiếp theo cũng xuất sắc như vậy.
Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm chúng tôi đã làm và đang triển khai mới ở bước đầu. Thời gian tới, chúng tôi sẽ bố trí thêm nguồn lực để vận động viên có điều kiện thi đấu, tập luyện trong môi trường tốt hơn, qua đó thể hiện được năng lực của mình.
- Vậy, Cục Thể dục Thể thao Việt Nam cần đẩy mạnh vai trò của mình như thế nào, để vừa nâng bước các môn căn bản, vừa thúc đẩy công tác xã hội hóa mạnh mẽ hơn ở các môn còn lại?
- Ở những môn, những nội dung xã hội hóa làm tốt, Cục chỉ đóng vai trò là đơn vị quản lý Nhà nước, kiến tạo chính sách. Với rất nhiều môn khác, chúng tôi chỉ định hướng, đào tạo cán bộ, bồi dưỡng chuyên gia, xây dựng các giải pháp kỹ thuật để bộ môn phát triển.
Chúng tôi luôn ủng hộ việc phát triển tất cả các môn thể thao, từ công tác phong trào để Nhân dân được thỏa đam mê, sở thích và nâng cao sức khỏe. Vừa qua, chúng tôi cũng triển khai và đề xuất nhiều chính sách để nguồn lực xã hội quan tâm, đầu tư nhiều hơn cho các môn thể thao.
Sắp tới, Cục đang xây dựng đề án kinh tế thể thao, gợi mở thêm những hướng thúc đẩy xã hội hóa và kinh tế thể thao phát triển, từ đó có thêm nguồn lực cho tuyển chọn và đào tạo vận động viên. Đồng thời, chúng tôi cũng đề xuất điều chỉnh một số điều trong Luật Thể dục, thể thao để tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp, tư nhân đầu tư vào lĩnh vực này, coi thể thao là một ngành kinh tế mũi nhọn. Kinh tế thể thao phát triển, vận động viên sẽ có điều kiện tốt hơn, tiếp cận môi trường tốt hơn và có nội lực để đạt được những mục tiêu cao hơn.
- Trong mọi lĩnh vực, đầu tư luôn đi kèm rủi ro. Với ngành thể thao, rủi ro ấy nên được quản lý bằng cách nào?
- Muốn quản lý rủi ro, phải làm rất khoa học, bắt đầu từ công tác tuyển chọn. Việc tuyển chọn 100 vận động viên ban đầu, có khi chỉ một người đạt tới đỉnh cao. Quan trọng là chúng ta phải đánh giá đúng năng lực và nắm bắt được quá trình phát triển của vận động viên. Ngoài tuyển chọn, đào tạo, theo dõi và đánh giá thường xuyên, còn có những yếu tố như chấn thương khó lường trước được. Những điều ấy đương nhiên có thể xảy ra, nhưng không nhiều và chúng tôi cố gắng hạn chế tối đa.
Với những vận động viên trải qua quá trình tập luyện không đạt hiệu quả, chúng tôi có khuyến nghị với vận động viên, huấn luyện viên, gia đình và cơ quan chủ quản, để có điều kiện học tập, định hướng lại nghề nghiệp, với mục tiêu hướng tới tương lai tốt đẹp hơn. Nếu đánh giá quá trình huấn luyện không sát, đến thời điểm không đạt mục tiêu mà các bạn phải chuyển sang nghề khác khi chưa được học hành bài bản thì sẽ gặp khó khăn trong cuộc sống sau này. Chúng tôi nhìn rõ trách nhiệm ấy và đặt nó lên hàng đầu trong đào tạo, huấn luyện.
- Xin chân thành cảm ơn những chia sẻ của Cục trưởng!
Mới nhất, lãnh đạo Đảng, Nhà nước cũng đã chỉ đạo Cục Thể dục Thể thao Việt Nam đẩy mạnh vai trò kiến tạo, còn các hình thức sự nghiệp sẽ dần chuyển cho các liên đoàn. Thế nhưng, chúng ta cũng phải đi từng bước, vì không phải bộ môn nào, Liên đoàn nào cũng phát triển mạnh ngay được. Nhà nước sẽ phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ, ngành, với các hội, Liên đoàn, trong đó Bộ Nội vụ cũng nắm giữ vai trò quan trọng, là nơi quyết định.
Minh Phú - Hồng Nam (thực hiện)