Chậm bàn giao căn hộ, tranh chấp thêm hơn 3m2 diện tích
Theo ông L. (ngụ TPHCM), cuối năm 2010, vợ chồng ông ký hợp đồng với Công ty HT để mua một căn hộ tại TPHCM. Theo thỏa thuận, căn hộ được bàn giao vào tháng 10/2011 nhưng đến đầu tháng 3/2013, công ty mới bàn giao.
Cho rằng công ty vi phạm cam kết, ông L. yêu cầu thanh toán 69,76 triệu đồng tiền lãi do chậm bàn giao. Ngoài ra, ông cho rằng diện tích căn hộ phải được tính theo diện tích thông thủy 48,14m2 thay vì diện tích tim tường 51,4m2 như công ty xác định để thanh toán.
Từ đó, ông L. khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc Công ty HT thanh toán tiền chậm bàn giao và xác định diện tích căn hộ theo phương pháp thông thủy.
Phía Công ty HT cho rằng không chậm bàn giao căn hộ vì người mua chỉ được nhận nhà sau khi thanh toán đủ 95% giá trị hợp đồng.
Về diện tích, công ty cho rằng cách tính theo hợp đồng phù hợp quy định pháp luật. Sau khi đo đạc, diện tích thực tế là 51,4m2, giảm 1,13m2 so với diện tích ghi trong hợp đồng. Công ty xác định 51,4m2 là diện tích làm căn cứ thanh toán.
Xét xử sơ thẩm, TAND quận Bình Tân (nay là TAND khu vực 9 - TPHCM) chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện, buộc Công ty HT thanh toán cho ông L. tổng cộng gần 91 triệu đồng.
Trong đó, 69,76 triệu đồng là tiền lãi do chậm bàn giao căn hộ và 21 triệu đồng là khoản chênh lệch diện tích. Tổng số tiền trên được thanh toán một lần sau khi bản án có hiệu lực và được cấn trừ vào đợt thanh toán cuối cùng khi hai bên quyết toán hợp đồng.
Tòa xác định diện tích tim tường là căn cứ thanh toán
Không đồng ý với phán quyết trên, Công ty HT kháng cáo.
Tại phiên phúc thẩm, về khoản tiền do chậm bàn giao căn hộ, TAND TPHCM cho rằng việc cấp sơ thẩm buộc Công ty HT thanh toán 69,76 triệu đồng là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng.
Đối với cách tính diện tích căn hộ, theo Tòa phúc thẩm, hợp đồng được ký năm 2010, thời điểm pháp luật cho phép xác định diện tích căn hộ theo cả hai phương pháp: diện tích thông thủy hoặc diện tích tính từ tim tường. Nội dung hợp đồng cũng thể hiện các bên đã thỏa thuận sử dụng cả hai cách tính này.
Đáng chú ý, bản vẽ đo đạc thực tế có xác nhận của các bên ghi diện tích 51,4m2 và nêu rõ đây là căn cứ để tính phí quản lý, thanh lý hợp đồng. Trong khi đó, giấy chứng nhận của cơ quan chức năng cũng ghi diện tích thông thủy 48,2m2 và diện tích theo tim tường 51,4m2.
Từ các tài liệu trên, Tòa phúc thẩm xác định ý chí của hai bên khi ký hợp đồng là sử dụng diện tích tim tường 51,4m2 làm căn cứ thanh toán.
TAND TPHCM cho rằng cấp sơ thẩm xác định diện tích thông thủy làm căn cứ thanh toán là không phù hợp với thỏa thuận. Tòa cho rằng do hai bên chưa yêu cầu quyết toán hợp đồng nên việc cấp sơ thẩm buộc Công ty HT thanh toán khoản chênh lệch diện tích gần 21 triệu đồng là chưa có cơ sở. Nếu sau này phát sinh tranh chấp khi quyết toán, các bên có quyền khởi kiện bằng vụ án khác.
Trên cơ sở đó, Tòa phúc thẩm sửa án sơ thẩm, giữ nghĩa vụ thanh toán 69,76 triệu đồng tiền chậm bàn giao và xác định diện tích 51,4m2 là căn cứ thanh toán theo hợp đồng, không chấp nhận yêu cầu tính theo diện tích thông thủy.
(Tham khảo Bản án số 459/2020/DS-PT ngày 4/6/2020 của TAND TPHCM)