Ở tuần thai 21, một phụ nữ 29 tuổi ở TPHCM được phát hiện thai nhi mắc hội chứng dải xơ buồng ối. Những dải mô xơ có thể quấn quanh tay, chân hoặc các bộ phận khác của thai, chèn ép mạch máu, gây tổn thương, dị dạng, thậm chí đe dọa tính mạng thai nhi.
Không muốn bỏ cuộc, người mẹ vượt hơn 1.700 km ra Hà Nội, tìm đến Trung tâm Y học Bào thai, Bệnh viện Đại học Phenikaa (PhenikaaMec), với hi vọng có thể can thiệp cứu con.
Sau khi đánh giá tuổi thai, vị trí dải xơ, bánh nhau và các yếu tố nguy cơ, bác sĩ, TS. Nguyễn Thị Sim, Phó Tổng Giám đốc Bệnh viện PhenikaaMec - Giám đốc Trung tâm Y học Bào thai nhận định chưa cần can thiệp.
Một số trường hợp có thể được nội soi buồng ối, sử dụng laser để giải phóng dải xơ. Tuy nhiên, với thai phụ này, nguy cơ vỡ ối sớm, sinh non hoặc nhiễm trùng được đánh giá có thể lớn hơn lợi ích của thủ thuật tại thời điểm đó.
“Có kĩ thuật không có nghĩa là phải sử dụng kĩ thuật. Điều quan trọng là lựa chọn đúng người bệnh và đúng thời điểm. Khi nguy cơ của can thiệp lớn hơn lợi ích có thể mang lại, theo dõi sát cũng chính là một quyết định điều trị”, bác sĩ Sim nói.
Trong 18 tuần tiếp theo, thai kì được theo dõi chặt chẽ. Các bác sĩ đánh giá sự phát triển của thai, diễn tiến của dải xơ, tuần hoàn qua Doppler và các chỉ số sinh trắc học. Mỗi thay đổi đều có thể khiến phương án điều trị được xem xét lại.
Nhưng thai nhi tiếp tục phát triển tốt, không xuất hiện biến chứng nghiêm trọng.
Đến tuần 39, sản phụ chuyển dạ. Bác sĩ Sim từ Hà Nội vào TPHCM trực tiếp tham gia ca sinh. Bé trai chào đời nặng 2,9 kg. Trên cơ thể trẻ chỉ còn một vết hằn nhỏ do dải xơ buồng ối, không ảnh hưởng đáng kể đến sức khỏe.
Với bác sĩ Sim, điều đáng nhớ nhất không phải là một kĩ thuật đã được thực hiện, mà là một kĩ thuật đã được cân nhắc rồi quyết định không sử dụng.
Từ “nhìn thấy” đến “có thể điều trị”
Quyết định trên là một lát cắt trong hành trình gần 20 năm theo đuổi sản khoa và Y học Bào thai của bác sĩ Nguyễn Thị Sim.
Những năm đầu làm nghề, chị thường gặp các thai nhi mắc bất thường mà khả năng điều trị trước sinh tại Việt Nam còn hạn chế. Hội chứng truyền máu song thai, dải xơ buồng ối, thiểu ối và nhiều bệnh lí phức tạp có thể được phát hiện qua siêu âm, nhưng sau chẩn đoán, lựa chọn dành cho bác sĩ và gia đình không nhiều.
“Có những thời điểm mình nhìn thấy vấn đề nhưng chưa có đủ công cụ để giải quyết. Chính cảm giác ấy khiến tôi luôn đặt câu hỏi: sau chẩn đoán, người bác sĩ còn có thể làm gì cho đứa trẻ”, bác sĩ Sim kể.
Năm 2014, chị được cử sang Pháp dự một hội nghị quốc tế về Y học Bào thai. Ba năm sau, khi công tác tại Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, chị tiếp tục sang Pháp học kĩ thuật can thiệp bào thai.
Điều chị học không chỉ là cách sử dụng dụng cụ hay laser, mà còn là cách lựa chọn bệnh nhân, xác định thời điểm can thiệp, kiểm soát biến chứng và phối hợp nhiều chuyên khoa.
Giai đoạn 2018-2019, sau khi trở về Việt Nam, bác sĩ Sim cùng đồng nghiệp xây dựng quy trình khám, chẩn đoán và điều trị, chuẩn bị điều kiện cho can thiệp bào thai.
Tháng 10/2019, ê-kíp thực hiện hai ca laser quang đông điều trị hội chứng truyền máu song thai với sự hỗ trợ của GS Yves Ville, chuyên gia Y học Bào thai người Pháp. Đó là một dấu mốc trong quá trình triển khai các kĩ thuật can thiệp bào thai tại Việt Nam.
Tuy nhiên, theo bác sĩ Sim, một chiếc kim hay một hệ thống laser không tạo nên năng lực Y học Bào thai.
Không chỉ là một thủ thuật
Đằng sau một ca can thiệp trong tử cung là hàng loạt câu hỏi: chẩn đoán đã chính xác chưa, thai nhi có thực sự cần can thiệp không, thời điểm nào phù hợp, nguy cơ đối với người mẹ ra sao và nếu thủ thuật khiến trẻ sinh non thì hệ thống hồi sức sơ sinh đã sẵn sàng hay chưa?
Một trường hợp phức tạp có thể cần sự phối hợp của Y học Bào thai, sản khoa, chẩn đoán hình ảnh, di truyền, gây mê hồi sức, sơ sinh, tim mạch, ngoại nhi và nhiều chuyên khoa khác.
“Thai nhi là người bệnh, nhưng đường tiếp cận lại đi qua người mẹ. Vì vậy, chúng tôi luôn phải nhìn đồng thời hai người bệnh và cả hành trình của đứa trẻ sau khi chào đời”, bác sĩ Sim nói.
Bởi vậy, hiệu quả của Y học Bào thai không chỉ nằm ở số kĩ thuật mới được triển khai hay số ca được can thiệp. Quan trọng hơn là chẩn đoán có đúng, chỉ định có phù hợp, người mẹ có an toàn và đứa trẻ sau sinh được tiếp tục chăm sóc thế nào.
Gần 20 năm làm nghề cũng thay đổi cách bác sĩ Sim nhìn về chữ “tiên phong”. Theo chị, một lĩnh vực mới có thể bắt đầu từ một người đi học trước, thực hiện những kĩ thuật đầu tiên. Nhưng nếu nhiều năm sau kĩ thuật ấy vẫn chỉ có thể thực hiện khi một cá nhân cụ thể có mặt, năng lực đó vẫn còn mong manh. “Người tiên phong không nên là người duy nhất làm được”, bác sĩ Sim nói.
Hiện trên cương vị Giám đốc Trung tâm Y học Bào thai PhenikaaMec, chị dành thời gian xây dựng đội ngũ kế cận, đào tạo bác sĩ trẻ, kết nối chuyên gia trong nước và quốc tế, phát triển hội chẩn đa chuyên khoa và quy trình chăm sóc liên tục từ trước sinh đến sau sinh.
Nếu một kĩ thuật khó được thực hiện thành công có thể là thành tựu của một bác sĩ, thì khi kĩ thuật đó trở thành một phần của đội ngũ, quy trình và hệ thống chăm sóc, nó mới thực sự trở thành năng lực của một cơ sở y tế.
“Ngày trước, tôi thường tự hỏi: Tôi có thể làm gì cho thai nhi này? Còn bây giờ, câu hỏi lớn hơn là: Làm thế nào để ngày càng nhiều bác sĩ có thể làm được, để năng lực ấy không phụ thuộc vào một người và để ngày càng nhiều bà mẹ, thai nhi và trẻ em có cơ hội được hưởng lợi”, bác sĩ Sim nói.