Bỏ qua điều hướng
•

Chính sách cho công nghiệp hỗ trợ phát triển

Chính sách cho công nghiệp hỗ trợ phát triển
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Các doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ có nhiều tiềm năng, cơ hội phát triển nhưng cũng đối diện nhiều khó khăn, thách thức. Từ thực tiễn hoạt động, cộng đồng doanh nghiệp đã kiến nghị, đề xuất nhiều giải pháp để có cơ chế, chính sách đủ mạnh, đủ sâu cho lĩnh vực này.

Tại Khu công nghiệp hỗ trợ Nam Hà Nội (HANSSIP), Hiệp hội Doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ Thành phố Hà Nội (HANSIBA), Tập đoàn N&G, Công ty tư vấn phát triển Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam-Nhật Bản và mạng lưới doanh nghiệp Kobe đã hợp tác, hình thành mô hình Tổ hợp công nghiệp công nghệ Việt Nam-Nhật Bản.

Tại đây, các doanh nghiệp Nhật Bản sản xuất linh kiện cơ khí chính xác phục vụ hàng không-vũ trụ, đường sắt tốc độ cao, tàu biển, robot và bán dẫn. Các chuyên gia đến từ Nhật Bản còn mở lớp đào tạo chuỗi sản xuất linh kiện phục vụ ngành hàng không vũ trụ và tàu cao tốc cho các doanh nghiệp Việt Nam. Đến nay, đã cấp chứng chỉ AS9100D cho Công ty cổ phần CNCTECH Thăng Long và Công ty cổ phần Sản xuất và Phát triển Công nghiệp Việt Nhật (INDEMA). Tuy nhiên, quy mô hiện nay còn nhỏ so với tiềm năng. Vướng mắc lớn không chỉ ở vốn của doanh nghiệp, mà còn ở cơ chế thu hút doanh nghiệp vệ tinh, phòng thử nghiệm dùng chung, tín dụng dài hạn và khả năng đặt hàng ổn định...

Hiện nay, trên địa bàn Thành phố Hà Nội có khoảng 1.000 doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, nhưng chỉ khoảng 35% số doanh nghiệp có hệ thống sản xuất và sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, đủ năng lực cung ứng vào mạng lưới sản xuất toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia tại Việt Nam, trong khu vực và thế giới. Chủ tịch HANSIBA Nguyễn Hoàng đánh giá: “Từ thực tiễn hoạt động của các doanh nghiệp hội viên, chúng tôi nhận thấy còn ba điểm nghẽn. Đó là doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam còn nhỏ và phân tán. Khoảng cách về công nghệ, vốn, nhân lực, thử nghiệm và chứng chỉ còn lớn. Một điểm đáng lưu ý là thiếu “thị trường đầu tiên” - đầu tư xong thì ai mua, tiêu chuẩn nào, thử mẫu ra sao và khi nào có đơn hàng”.

Theo chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ Thành phố Hà Nội giai đoạn 2026-2030, định hướng đến 2035, thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 1.200 doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ. Trong đó, hơn 40% số doanh nghiệp có hệ thống sản xuất và sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, đủ năng lực cung ứng tham gia vào mạng lưới sản xuất toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia tại Việt Nam. Việc phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ không phải chỉ là số lượng hành chính trên giấy mà cần xác định doanh nghiệp có hồ sơ năng lực số hóa, được xếp hạng, có lộ trình công nghệ và kết nối thực tế với bên mua.

Công nghiệp hỗ trợ là phần lõi tạo nên năng lực tự chủ của nền công nghiệp, từ vật liệu, linh kiện, phụ tùng, thiết bị đến công nghệ nền và dịch vụ kỹ thuật. Do đó, theo ông Hoàng, chính sách công nghiệp hỗ trợ không thể chỉ phục vụ những ngành đang có hôm nay, mà phải chuẩn bị nền tảng, năng lực sản xuất cho sự phát triển trong tương lai. Chúng ta phải tiến tới làm chủ một phần chuỗi thiết bị cho metro, đường hầm, khai khoáng sâu, trung tâm dữ liệu và công trình ngầm đô thị... Đối với không gian tầm thấp, tầm cao (hàng không và vũ trụ), cần sớm phát triển hệ công nghiệp hỗ trợ cho thiết bị bay không người lái (UAV), hàng không dân dụng, thiết bị tầng bình lưu, vệ tinh và trạm mặt đất...

Để biến định hướng đó thành năng lực thực, HANSIBA đề nghị hình thành các tổ hợp công nghiệp công nghệ (Techno Park) ở ba miền của Việt Nam, gắn doanh nghiệp Việt Nam với Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Mỹ, Nga và các đối tác có thế mạnh.

Bài và ảnh: NGUYÊN TRANG

Thực trạng phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ tại Thành phố Hà Nội hiện nay phản ánh rõ nét tiềm năng lẫn những rào cản nội tại của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Mô hình Tổ hợp công nghiệp công nghệ Việt Nam - Nhật Bản tại Khu công nghiệp HANSSIP đã ghi nhận những bước tiến cụ thể khi chứng chỉ quốc tế AS9100D được cấp cho Công ty CNCTECH Thăng Long và INDEMA trong lĩnh vực cơ khí chính xác. Tuy nhiên, toàn thành phố hiện chỉ có khoảng 35% trong tổng số 1.000 doanh nghiệp đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế để tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Những rào cản lớn nhất ngăn sự bứt phá của ngành tập trung vào ba điểm nghẽn cốt lõi gồm quy mô nhỏ lẻ, khoảng cách công nghệ và sự thiếu vắng thị trường đầu tiên. Các doanh nghiệp đang đối diện khó khăn về vốn tín dụng dài hạn, phòng thử nghiệm dùng chung cùng năng lực duy trì đơn hàng ổn định từ các tập đoàn đa quốc gia. Nhận diện đúng thách thức này, chương trình phát triển giai đoạn 2026-2030, định hướng đến 2035 của Hà Nội đặt mục tiêu nâng tỷ lệ doanh nghiệp đạt chuẩn quốc tế lên trên 40% trong tổng số 1.200 đơn vị. Để ngành công nghiệp hỗ trợ giữ vai trò nòng cốt tạo nên năng lực tự chủ cho nền kinh tế, chính sách phát triển cần chuyển hướng chiến lược sang các ngành công nghệ tương lai. Việc hoàn thiện hệ sinh thái không chỉ dừng ở chỉ tiêu hành chính mà phải thông qua lộ trình chuyển đổi số, xếp hạng năng lực và kết nối thực chất với bên mua. Đây là nền tảng bắt buộc nhằm hướng tới làm chủ chuỗi thiết bị cho công trình ngầm, trung tâm dữ liệu, thiết bị bay không người lái và công nghiệp hàng không vũ trụ.