Bỏ qua điều hướng
•

Cho nữ giám đốc nghỉ việc trái luật, công ty phải trả hơn 1,3 tỷ đồng

Cho nữ giám đốc nghỉ việc trái luật, công ty phải trả hơn 1,3 tỷ đồng
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Ký biên bản thanh lý hợp đồng lao động nhưng vẫn giao việc cho nữ giám đốc, doanh nghiệp bị tòa xác định đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật, phải thanh toán hơn 1,3 tỷ đồng.

Nữ giám đốc kiện công ty cho nghỉ việc sai luật

Theo hồ sơ vụ án, tháng 9/2019, bà D. (TPHCM) ký hợp đồng lao động thời hạn 12 tháng với Công ty V., đảm nhận chức vụ giám đốc điều hành, mức lương 110 triệu đồng/tháng. Hợp đồng có thời hạn từ ngày 7/9/2019 đến ngày 6/9/2020.

Ngày 11/11/2019, ông Đ. - người đại diện theo pháp luật của công ty - đề nghị bổ nhiệm bà giữ chức Giám đốc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực thay cho vị trí hiện tại.

Bà D. đồng ý với chức vụ mới và ký biên bản thỏa thuận thanh lý hợp đồng lao động ngày 13/11/2019.

Tuy nhiên, sau khi ký xong biên bản, ông Đ. trả lại cho bà 2 bản chính, đề nghị bà hủy biên bản thỏa thuận thanh lý hợp đồng nói trên. Người đại diện công ty yêu cầu bà tiếp tục thực hiện công việc theo hợp đồng lao động đã ký, đồng thời đi công tác với chức danh cũ.

Cho nữ giám đốc nghỉ việc trái luật, công ty phải trả hơn 1,3 tỷ đồng - 1

Ảnh minh họa AI.

Bà D. đồng ý hủy hai biên bản thanh lý và tiếp tục làm việc theo yêu cầu của ông Đ. Ngày 14 và 15/11/2019, bà thực hiện công việc với các đối tác, được công ty thanh toán tiền lương và chi phí đi công tác.

Đến cuối tháng 11/2019, Công ty V. hết hợp đồng thuê mặt bằng. Bà D. cho biết mình không có chỗ làm việc, nhiều lần liên hệ với doanh nghiệp và ông Đ. nhưng không nhận được phản hồi.

Nữ giám đốc cho rằng công ty đã đơn phương chấm dứt hợp đồng, không bố trí công việc và không trả lương cho mình từ tháng 11/2019 đến khi khởi kiện, ngày 6/8/2020.

Ban đầu bà D. khởi kiện, đề nghị tòa buộc Công ty V. nhận trở lại làm việc nhưng sau đó thay đổi, không đề nghị được nhận trở lại làm việc mà yêu cầu doanh nghiệp thanh toán các khoản tiền lương còn thiếu, bồi thường 2 tháng lương và thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm theo mức lương 110 triệu đồng/tháng trong hợp đồng lao động.

Cụ thể, bà yêu cầu thanh toán 30 triệu đồng tiền lương còn thiếu của tháng 9 và tháng 10/2019; 68 triệu đồng tiền lương còn thiếu tháng 11/2019; 990 triệu đồng tiền lương từ tháng 12/2019 đến ngày 6/9/2020, thời điểm hết hạn hợp đồng; đồng thời bồi thường hai tháng lương, tương đương 220 triệu đồng.

Tổng số tiền bà D. yêu cầu Công ty V. thanh toán là hơn 1,3 tỷ đồng.

Bà D. còn cung cấp cho tòa án các tài liệu liên quan, gồm sao kê ngân hàng, biên bản làm việc với đối tác, thư điện tử trao đổi công việc và vi bằng ghi nhận việc trao đổi thông tin với ông Đ. cùng những người có thẩm quyền của công ty sau ngày 13/11/2019.

Về phía Công ty V., doanh nghiệp trình bày, khi ký hợp đồng, hai bên thỏa thuận công ty sẽ đánh giá năng lực của nhân sự thông qua kết quả kinh doanh quý 4/2019, kể từ thời điểm ký hợp đồng lao động đến ngày 30/11/2019. Cũng trong văn bản này, hai bên thỏa thuận nếu bà D. không hoàn thành KPI sẽ tiến hành thanh lý hợp đồng.

Tuy nhiên, sau hơn 2 tháng làm việc tại công ty, bà D. đã không chứng minh được kết quả như đã cam kết. Do đó, sau cuộc họp với nhau, hai bên tự nguyện thống nhất thanh lý chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn. Công ty không chấp nhận yêu cầu thanh toán tiền lương của bà D. sau thời điểm này.

Doanh nghiệp cũng cho rằng đã thanh toán tiền lương tháng 9 và tháng 10/2019 theo thỏa thuận, kết quả công việc của bà D. và các chứng từ chi trả.

Về nghĩa vụ bảo hiểm, công ty trình bày hai bên đã thống nhất mức đóng dựa trên tiền lương hơn 14 triệu đồng/tháng và doanh nghiệp đã thực hiện theo thỏa thuận.

Công ty phải trả hơn 1,3 tỷ đồng và truy đóng bảo hiểm

Tại bản án sơ thẩm ngày 31/7/2025, Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai chấp nhận yêu cầu khởi kiện về tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của bà D..

Tòa buộc Công ty V. thanh toán 30 triệu đồng tiền lương còn thiếu của tháng 9 và tháng 10/2019, 68 triệu đồng tiền lương tháng 11/2019 và 990 triệu đồng tiền lương từ tháng 12/2019 đến ngày 6/9/2020. Doanh nghiệp còn phải bồi thường hai tháng lương, tương đương 220 triệu đồng.

Ngoài ra, công ty phải liên hệ với cơ quan bảo hiểm xã hội để truy đóng phần chênh lệch bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp của các tháng 9, 10 và 11/2019 theo mức lương hợp đồng 110 triệu đồng/tháng; đồng thời đóng các khoản bảo hiểm từ tháng 12/2019 đến ngày 6/9/2020 theo mức lương này.

Không đồng ý với phán quyết, Công ty V. kháng cáo toàn bộ bản án, đề nghị tòa phúc thẩm không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của bà D..

Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, hội đồng xét xử nhận định các tài liệu trong hồ sơ thể hiện hai bên đã ký biên bản thỏa thuận thanh lý hợp đồng lao động nhưng sau đó hủy bỏ thỏa thuận này và tiếp tục thực hiện hợp đồng.

Đáng chú ý, tại biên bản thỏa thuận thanh lý hợp đồng lao động ngày 11/11/2019 do bị đơn cung cấp, có nội dung bổ sung về việc công ty đóng bảo hiểm cho người lao động hết tháng 11 và thanh toán chi phí lương trong tháng 11. Phần nội dung bổ sung có xác nhận chấp thuận ngày 14/11/2019, kèm chữ ký của ông Đ., người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, bà D. tiếp tục thực hiện công việc trong các ngày 14 và 15/11/2019, được công ty thanh toán tiền lương và chi phí đi công tác. Các tài liệu do nguyên đơn cung cấp cũng thể hiện việc tiếp tục trao đổi công việc với ông Đ. và những người có thẩm quyền của doanh nghiệp sau thời điểm ký biên bản thanh lý hợp đồng lao động.

Theo hội đồng xét xử, những tình tiết này phù hợp với lời trình bày của bà D. về việc hai bên tiếp tục thực hiện hợp đồng lao động.

Công ty V. cung cấp quyết định chấm dứt hợp đồng lao động ngày 12/11/2019 nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh đã giao quyết định này cho bà D..

Theo nhận định của tòa, việc công ty tiếp tục gửi thư điện tử ngày 16/12/2019 yêu cầu bà D. mang bản gốc biên bản thanh lý hợp đồng và sổ bảo hiểm xã hội đến làm việc cũng thể hiện các bên chưa chấm dứt quan hệ lao động như doanh nghiệp trình bày.

Hội đồng xét xử xác định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng, bà D. đang nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi. Việc Công ty V. đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động khi chưa có căn cứ xác định các bên đã chấm dứt quan hệ lao động, đồng thời không báo trước cho bà D. biết là trái quy định pháp luật, vi phạm điểm a khoản 2 Điều 36 và khoản 3 Điều 37 Bộ luật Lao động.

Về nghĩa vụ tài chính, tòa nhận định Công ty V. phải thực hiện trách nhiệm của người sử dụng lao động theo Điều 42 Bộ luật Lao động năm 2012.

Đối với nghĩa vụ bảo hiểm, hợp đồng lao động giữa hai bên ghi nhận thu nhập gộp của người lao động là 110 triệu đồng/tháng, từ đó thực hiện việc trích đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc, thuế thu nhập cá nhân và những khoản phải nộp khác theo quy định.

Do công ty đã đóng bảo hiểm cho bà D. trong các tháng 9, 10 và 11/2019 theo mức tiền lương 14 triệu đồng/tháng, doanh nghiệp phải truy đóng phần chênh lệch theo mức lương hợp đồng 110 triệu đồng/tháng. Công ty cũng phải đóng các khoản bảo hiểm cho bà D. từ tháng 12/2019 đến ngày 6/9/2020 theo mức lương này.

Tòa phúc thẩm nhận định cấp sơ thẩm đã phân tích, đánh giá các tài liệu, chứng cứ và chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ. Công ty V. không cung cấp được tài liệu, chứng cứ làm thay đổi nội dung vụ án nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.

Vì vậy, tòa phúc thẩm quyết định không chấp nhận kháng cáo của Công ty V., giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm ngày 31/7/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Đồng Nai.

Theo phán quyết, Công ty V. phải thanh toán cho bà D. tổng số tiền hơn 1,3 tỷ đồng, thực hiện nghĩa vụ truy đóng và đóng các khoản bảo hiểm theo mức lương trong hợp đồng lao động.

Tòa án nhân dân vừa xác định Công ty V. đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với bà D., nguyên Giám đốc điều hành có mức lương 110 triệu đồng mỗi tháng. Doanh nghiệp này bị buộc phải chi trả tổng cộng hơn 1,3 tỷ đồng bao gồm tiền lương còn thiếu cùng các khoản bồi thường theo luật định. Quyết định pháp lý này xuất phát từ việc người sử dụng lao động đã hủy bỏ hiệu lực thỏa thuận thanh lý trên thực tế nhưng lại tự ý cắt đứt quan hệ lao động sau đó. Theo hồ sơ, bà D. ký hợp đồng lao động thời hạn 12 tháng từ tháng 9 năm 2019 và từng đồng ý ký biên bản thỏa thuận thanh lý vào ngày 13 tháng 11 cùng năm. Tuy nhiên, đại diện công ty ngay sau đó đã trả lại văn bản gốc, đề nghị hủy thanh lý và tiếp tục phân công bà đi công tác với chức danh cũ. Dù người lao động vẫn thực hiện nhiệm vụ và được thanh toán chi phí, doanh nghiệp lại bất ngờ ngưng bố trí nơi làm việc cũng như dừng trả lương từ cuối tháng 11 năm 2019. Bà D. đã nộp vi bằng, sao kê tài khoản cùng chứng từ trao đổi công việc để chứng minh quan hệ lao động vẫn tồn tại sau thời điểm ký biên bản thanh lý. Khoản tiền hơn 1,3 tỷ đồng được chấp thuận chi trả gồm tiền lương các tháng còn thiếu, lương đến khi hết hạn hợp đồng vào tháng 9 năm 2020 và hai tháng lương bồi thường. Vụ việc trở thành tiền lệ quan trọng cảnh báo các tổ chức về rủi ro pháp lý khi quản trị nhân sự cấp cao thiếu nhất quán.
amung