Với chuyển đổi xanh và chuyển đổi số làm nền tảng, các mô hình canh tác lúa theo hướng tiệm cận tiêu chuẩn quốc tế đang từng bước định hình diện mạo mới cho nền nông nghiệp vùng hạ lưu sông Mê Kông.
Thực hiện cam kết của Việt Nam tại hội nghị COP26 về đạt mức phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030”.
Bước chuyển mang tính chiến lược
Nhằm đánh giá toàn diện quá trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số trong sản xuất lúa gạo, mới đây tại Vĩnh Long, Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam phối hợp Trường đại học Cửu Long và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia tổ chức hội thảo khoa học chuyên đề; thu hút đông đảo các đại biểu, nhà quản lý, nhà khoa học và đại diện hợp tác xã tham gia, đóng góp nhiều góc nhìn sắc bén.
Sau hai năm triển khai Đề án 1 triệu héc-ta, việc tổ chức sản xuất theo hướng chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đã có những kết quả bước đầu. Đến nay, toàn bộ các địa phương tham gia đề án đã thành lập bộ máy chỉ đạo; hơn 175.000 hộ dân đăng ký tham gia trên diện tích áp dụng toàn bộ hoặc một phần tiêu chí khoảng 420.000 ha, với sự đồng hành của hơn 1.100 hợp tác xã và 210 doanh nghiệp. Đáng chú ý, Việt Nam đã xuất khẩu lô gạo đầu tiên mang nhãn hiệu “Gạo Việt xanh, phát thải thấp”, khối lượng 552,4 tấn sang các thị trường Nhật Bản, Australia và Singapore.
Về kỹ thuật và môi trường, các mô hình thử nghiệm bước đầu ghi nhận mức giảm phát thải từ 3-4 tấn CO₂ tương đương/ha/vụ. Báo cáo MRV (Đo lường, Báo cáo và Thẩm định) tại bốn mô hình canh tác lúa thông minh ở Cần Thơ trong vụ hè thu 2026, với tổng diện tích 9,5 ha cho thấy lượng phát thải giảm 30,60% so với phương thức canh tác truyền thống, tương đương 3,54 tấn CO₂/ha. Năng suất lúa tăng từ 4% đến 22,42%, qua đó giảm cường độ phát thải trên mỗi kg lúa từ 17,1% đến 49,8%.
Tuy nhiên, theo các chuyên gia, quá trình triển khai cũng bộc lộ một số khó khăn, nhất là sự chưa đồng đều về kỹ thuật. Cả bốn mô hình tại Cần Thơ đều áp dụng tưới ngập khô xen kẽ (AWD), nhưng chỉ một mô hình đạt yêu cầu do hệ thống thủy lợi nội đồng chưa chủ động trong cấp, thoát nước. Việc thu gom, xử lý rơm rạ sau thu hoạch cũng chưa đồng bộ, nhất là vào mùa mưa. Vùi rơm rạ tươi khi ruộng còn ngập nước trong vòng 30 ngày trước vụ mới có thể làm gia tăng phát thải khí mê-tan.
Giải pháp tháo gỡ
Tiến sĩ Huỳnh Kim Định, Phó Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, sản xuất lúa nước hiện chiếm khoảng 70% tổng lượng phát thải trong trồng trọt và 48% tổng lượng phát thải của ngành nông nghiệp. Rào cản lớn hiện nay là quy mô sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, khiến chi phí vật tư của nông dân còn cao. Đề án không đơn thuần là chương trình cải tiến kỹ thuật, mà phải là căn cứ để tái cấu trúc hợp tác xã và đổi mới mô hình tài chính chuỗi giá trị. Trong đó, hợp tác xã phải đảm nhận đầy đủ các chức năng: Thống nhất quy trình, cung ứng dịch vụ, quản lý nhật ký dữ liệu, đại diện ký hợp đồng và chia sẻ lợi ích.
Về giá trị thực của người trồng lúa, theo Tiến sĩ Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch Thường trực Tổng hội Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, cần lấy thu nhập ròng của nông dân làm thước đo trung tâm. Việc áp dụng một phần tiêu chí chưa đồng nghĩa với việc có thể tạo ra tín chỉ carbon để thương mại hóa ngay lập tức. Ông đề xuất các nhóm giải pháp gồm: Đầu tư đồng bộ hạ tầng thủy lợi nội đồng, bảo đảm chủ động cấp, thoát nước và xây dựng điểm tập kết rơm rạ; thống nhất bộ dữ liệu số thiết yếu, dễ ghi chép như diện tích, lượng giống, đợt rút nước, thu mua; yêu cầu doanh nghiệp ký hợp đồng bao tiêu thực chất ngay từ đầu vụ; phát triển các tổ dịch vụ hỗ trợ hợp tác xã trong quản trị; xây dựng cơ chế chia sẻ lợi ích minh bạch; đồng thời phát huy vai trò kết nối giữa viện, trường với cánh đồng.
Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật, chuẩn hóa nguồn nhân lực được xác định là một trong những yếu tố then chốt. Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lương Minh Cừ, Hiệu trưởng Trường đại học Cửu Long cho biết, các cơ sở giáo dục đại học vùng Đồng bằng sông Cửu Long giữ vai trò quan trọng trong đổi mới chương trình đào tạo, tích hợp các nội dung về nông nghiệp sinh thái, kinh tế tuần hoàn, canh tác giảm phát thải, quản lý tài nguyên, chuyển đổi số và thị trường carbon. Các cơ sở giáo dục cần phối hợp hệ thống khuyến nông và hợp tác xã tổ chức tập huấn chuyên sâu cho cán bộ kỹ thuật, quản trị hợp tác xã và nông dân nòng cốt về ghi chép nhật ký điện tử (eGAP), phương pháp theo dõi, đo lường và báo cáo theo MRV. Đồng thời, thúc đẩy xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, ươm tạo các dự án sinh viên gắn với công nghệ số và kinh tế tuần hoàn từ phụ phẩm lúa gạo, qua đó cung cấp nguồn nhân lực trẻ “vừa vững tri thức khoa học, vừa am hiểu đồng ruộng” cho vùng.
Chuyển đổi xanh và chuyển đổi số trong sản xuất lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long là một hành trình dài hạn. Khi lợi ích kinh tế của người nông dân được đặt ở vị trí trung tâm, cùng sự phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, nhà trường, doanh nghiệp và người dân, “Gạo Việt xanh” sẽ có thêm nền tảng để nâng cao giá trị, mở rộng thị trường và khẳng định vị thế trên thị trường quốc tế.
Bài và ảnh: BÁ DŨNG