Bỏ qua điều hướng

Chuyện về những trưởng bản, già làng - Kỳ cuối: Qua thác ghềnh càng thấu lòng nhau

Chuyện về những trưởng bản, già làng - Kỳ cuối: Qua thác ghềnh càng thấu lòng nhau
Nguồn ảnh: Tiền Phong

Gọi “lưỡng quốc trưởng bản”, “lưỡng quốc già làng” là vì bản bên này làm gì cũng phải nghĩ đến bản bên kia. Đó chính là tình hữu nghị đặc biệt, chung trách nhiệm gìn giữ đường biên giới, giữ gìn an ninh trật tự, ngoại giao nhân dân.

Lo việc hai bản

Thiếu tướng Trần Đình Dũng kể tiếp: “Sau khi đã tổ chức kết nghĩa giữa hai bản của hai bên biên giới Việt - Lào là Ka Tăng và Đen Sa Vẳn, nhưng không phải mọi sự xuôi chèo mát mái, mà đã phát sinh một việc nghiêm trọng khiến mọi người quan tâm đều lo lắng”.

Số là nhiều người ở xã Thanh, huyện Hướng Hóa (nay thuộc xã Lìa, tỉnh Quảng Trị) khi qua đời lại chôn ở bên nước bạn, ở Rừng Ma (theo phong tục dân tộc Vân Kiều đây là nghĩa trang chôn người chết, bất khả xâm phạm, chỉ có cây rừng mọc lên nên gọi Rừng Ma). Việc này đã có từ thời kháng chiến chống Mỹ đến sau này hòa bình rồi vẫn còn. Lẽ ra không có chuyện gì, nhưng vì phía bạn là huyện Mường Noòng, tỉnh Savanakhet có dự án xây dựng nên cần san ủi mặt bằng mới nảy sinh rắc rối vì liên quan đến người đã khuất, đến tâm linh.

anh-6-bai-2-y-si-bien-phong-le-van-duc-dieu-tri-benh-cho-ba-con-hai-ben-bien-gioi-anh-nvcc.jpg
Y sĩ biên phòng Lê Văn Đức điều trị bệnh cho bà con hai bên biên giới. Ảnh: NVCC

Dân bên mình nghe vậy liền sang bên bạn cản trở. Để giải quyết yên ổn, ta với bạn thống nhất từ nay người chết bên này không được đem sang chôn bên kia, còn chuyện do lịch sử để lại thì cứ để nguyên như vậy. Bạn làm dự án nơi khác vẫn bảo đảm yêu cầu phát triển kinh tế, còn Rừng Ma giữ lại vẫn bảo đảm môi trường sinh thái mà không gây mâu thuẫn.

Anh Hồ Văn Hiệp, dân bản Ba Nang hồ hởi nói: “Bà con hai bên biên giới, có gì là gọi nhau. Đám cưới, đám tang đều có nhau, rồi qua lại bày cách cách trồng chuối, trồng sắn, trồng cà phê có năng suất cao, chăn nuôi để phát triển kinh tế... nên tình nghĩa càng thêm gắn bó”.

Tình hình hạ nhiệt rõ rệt và tiến thêm một bước nữa là tiến hành vận động và tổ chức kết nghĩa thêm các bản giữa hai bên biên giới ở khu vực này. Đấy là một ví dụ, còn bao chuyện khác nữa như xâm canh, xâm cư, mâu thuẫn giữa các dòng họ bao đời hai bên biên giới, nhờ kết nghĩa bản với bản mà hầu như hóa giải mọi điều.

“Nói gần thì đó là câu chuyện giữa hai bản mà thôi, nhưng suy rộng ra đó là quan hệ giữa hai quốc gia, cho nên hai bản hòa thuận là góp phần vào sự hòa hiếu giữa hai nước. Mà việc lớn quốc gia, quốc sự lại được hai trưởng bản, hai già làng, đến từng người dân hai bên biên giới chung tay giải quyết, từ chuyện trâu bò giẫm hoa màu cho đến đám cháy ở vùng biên, dân hai bên cùng nhau lo liệu, xử lý. Bởi vậy, chúng tôi hay nói đùa với nhau, lưỡng quốc trưởng bản, già làng là vì bản bên này làm gì cũng phải nghĩ đến bản bên kia, đó chính là tình hữu nghị đặc biệt, để cùng chung trách nhiệm gìn giữ đường biên giới chung, giữ gìn an ninh trật tự biên giới, gắn bó keo sơn, ngoại giao nhân dân”, ông Dũng chia sẻ.

Tôi gặp già làng Hồ Thanh Bình ở bản Ka Tăng, người thường sang giúp bà con bản Đen Sa Vẳn của nước bạn Lào. Trò chuyện với tôi, già làng Hồ Thanh Bình cười khà khà: “Ừ, thì bố hay giúp bà con bạn trồng chuối, cùng xóa đói giảm nghèo như mình. Giúp nhau vì tình nghĩa, như là bà con làng xóm, láng giềng. Nhờ vậy, tình đoàn kết càng gắn bó. Mà nói cho cùng giúp bạn là cũng giúp chính mình!”, già làng cười sảng khoái.

anh-3-bai-2-mua-vang-bien-cuong-tham-tinh-huu-nghi-viet-lao-anh-pxd.jpg
Mùa vàng biên cương thắm tình hữu nghị Việt - Lào. Ảnh: PXD

Mới đây, có dịp lên bản Ba Nang thuộc xã Đakrông, tình cờ chúng tôi được chứng kiến một sự kiện đặc biệt rất vui và thú vị, đó là đám cưới Việt - Lào. Chú rể Việt, cô dâu Lào. Khi qua lại thăm chơi rồi bén duyên chồng vợ. Đám cưới có họ hàng, xóm giềng hai bên cùng chia vui, chúc phúc nên hân hoan, rôm rả. Anh em phóng viên chúng tôi cũng được dân bản mời uống một ly rượu chúc phúc cho đôi trẻ.

Anh Hồ Văn Hiệp, dân bản Ba Nang hồ hởi nói: “Bà con hai bên biên giới, có gì là gọi nhau. Đám cưới, đám tang đều có nhau, rồi qua lại bày cách cách trồng chuối, trồng sắn, trồng cà phê có năng suất cao, chăn nuôi để phát triển kinh tế... nên tình nghĩa càng thêm gắn bó”.

Thầy thuốc xuyên biên giới

Trung tá quân y sĩ biên phòng Lê Văn Đức dù đã xuất ngũ nhưng vẫn nhớ khôn nguôi những năm tháng công tác ở Đồn biên phòng Ba Nang cạnh biên giới Việt - Lào. Anh và các đồng nghiệp không chỉ chữa bệnh cho đồng bào Việt mà còn tận tâm với những người dân của nước bạn Lào.

Bà Y Rên ở huyện Sa Muồi, tỉnh Salavan (Lào) bị bệnh lao phổi nặng, gia đình khó khăn nên không đi bệnh viện điều trị. Y sĩ Đức thấy vậy động viên bà chữa trị. Anh tham khảo phác đồ rồi tự mình kiên trì điều trị mấy tháng trời cho bà. Rốt cuộc bà đã hết bệnh. Khi lên công tác đồn Sa Trầm lần hai, y sĩ Đức gặp bà thấy khỏe mạnh. Bà níu tay anh nói lời cảm ơn tận đáy lòng, ai thấy cũng xúc động.

Còn bà Y Hoàng ở bản A Sóc (huyện Sa Muồi, tỉnh Savanakhet) bị viêm loét dạ dày lâu ngày. Y sĩ Đức động viên bà để quân y biên phòng chữa trị. Sau hai tháng dùng thuốc, bà Y Hoàng hoàn toàn bình phục.

“Khi bà lành bệnh, người nhà bà dắt về một con bê, nói tặng bác Đức, bà nói phải nhận món quà này vì đó là tấm lòng dân bản Lào biết ơn bộ đội biên phòng Việt Nam đã chữa hết bệnh cho Y Hoàng”, Y sĩ Đức kể lại.

Thiếu tướng Trần Đình Dũng cho hay, từ một cặp bản đầu tiên kết nghĩa là Ka Tăng - Đen Sa Vẳn đến nay đã có hàng trăm cặp bản thuộc nhiều tỉnh trong cả nước kết nghĩa với bạn, lan tỏa đến cả vùng biên giới Việt Nam - Campuchia.

Về lâu dài việc kết nghĩa bản với bản, trạm biên phòng với trạm biên phòng, đồn biên phòng với đồn biên phòng giữa hai bên biên giới góp phần đem lại ổn định, quan hệ tốt đẹp. Mô hình này đã và đang trở thành chiến lược quốc gia, rất cần không ngừng lan tỏa hơn nữa.

Sau lễ kết nghĩa giữa bản Ka Tăng của Việt Nam và bản Đen Sa Vẳn của Lào, một vấn đề liên quan đến Rừng Ma đã trở thành phép thử đối với tình đoàn kết hai bên biên giới. Nhiều người dân xã Thanh, huyện Hướng Hóa, nay thuộc xã Lìa, tỉnh Quảng Trị, từ thời kháng chiến chống Mỹ đến sau hòa bình vẫn được an táng tại khu rừng thiêng trên địa bàn huyện Mường Noòng, tỉnh Savanakhet. Khi phía Lào triển khai dự án cần san ủi mặt bằng, người dân phía Việt Nam đã sang ngăn cản vì lo nơi chôn cất tổ tiên bị xâm phạm. Trước nguy cơ phát sinh mâu thuẫn, hai bên thống nhất từ nay người mất ở bên này không đưa sang bên kia an táng, còn những phần mộ do lịch sử để lại được giữ nguyên. Dự án được chuyển sang vị trí khác, vừa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế, vừa bảo vệ Rừng Ma và môi trường sinh thái. Cách xử lý dựa trên đối thoại, tôn trọng phong tục và lợi ích chung cho thấy vai trò đặc biệt của trưởng bản, già làng trong quản trị cộng đồng vùng biên. Từ tranh chấp xâm canh, xâm cư, mâu thuẫn dòng họ đến chuyện trâu bò phá hoa màu hay cháy rừng, cơ chế kết nghĩa bản với bản đã tạo điều kiện để người dân cùng bàn bạc và hóa giải bất đồng. Quan hệ ấy còn được bồi đắp qua việc dự đám cưới, đám tang, chia sẻ kỹ thuật trồng chuối, sắn, cà phê và kinh nghiệm chăn nuôi. Khái niệm “lưỡng quốc trưởng bản”, “lưỡng quốc già làng” vì thế không chỉ là cách nói vui, mà phản ánh trách nhiệm vượt qua ranh giới hành chính của những người có uy tín. Già làng Hồ Thanh Bình ở bản Ka Tăng thường sang giúp người dân Đen Sa Vẳn trồng chuối, xóa đói giảm nghèo, coi việc giúp bạn cũng là giúp chính mình. Từ những việc thiết thực ấy, ngoại giao nhân dân trở thành nền móng để giữ gìn đường biên, bảo đảm an ninh trật tự và vun đắp tình hữu nghị đặc biệt Việt - Lào.