Bỏ qua điều hướng

Có phải hợp đồng cộng tác viên cũng phải đóng bảo hiểm xã hội?

Có phải hợp đồng cộng tác viên cũng phải đóng bảo hiểm xã hội?
Nguồn ảnh: VnExpress

Tôi nghe nói theo quy định mới, kể cả người lao động thời vụ dạng hợp đồng cộng tác viên cũng phải đóng bảo hiểm xã hội, nếu không sẽ bị phạt. Điều này có đúng không?

Sau khi nghỉ việc, tôi chuyển sang cộng tác với một số công ty du lịch. Do thời gian làm việc trong tháng không cố định, chủ yếu nhận làm theo từng tour nên tôi không ký hợp đồng lao động mà ký hợp đồng cộng tác mỗi tour.

Hai bên cũng không có thỏa thuận về thời gian làm việc cố định hay việc tôi phải làm việc thường xuyên cho công ty.

Gần đây, tôi nghe một số người trong ngành nói rằng từ trước đến nay, cứ ký hợp đồng cộng tác là có thể phải đóng BHXH bắt buộc, nếu không doanh nghiệp sẽ bị xử phạt. Thông tin này khiến tôi khá hoang mang.

Tôi vẫn nghĩ rằng chỉ người ký hợp đồng lao động mới thuộc diện đóng BHXH bắt buộc, còn người làm việc theo từng tour, nhận tiền theo từng hợp đồng cộng tác như tôi thì không.

Xin hỏi, trường hợp của tôi có thuộc diện phải tham gia BHXH bắt buộc không? Việc hai bên gọi là "hợp đồng cộng tác" có quyết định nghĩa vụ đóng BHXH hay không?

Độc giả Minh Phúc

Thạc sĩ luật Nguyễn Trúc Anh tư vấn:

Đứng trước bối cảnh cơ quan BHXH đang tăng cường rà soát tình hình tham gia BHXH tại các đơn vị hiện nay, tôi thấu hiểu những thắc mắc và trăn trở mà bạn đang gặp phải khi ký hợp đồng cộng tác với các công ty du lịch, nhưng để xác định có phải đóng BHXH không, theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, cần làm rõ các yếu tố sau đây:

Thứ nhất, kể cả khi giữa bạn và công ty du lịch thỏa thuận bằng tên gọi khác, nhưng hợp đồng có nội dung thể hiện liên quan đến việc làm, có trả công, tiền lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì cũng được xem là hợp đồng lao động.

Thứ hai, theo Điểm a Khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên cũng thuộc đối tượng phải tham gia BHXH bắt buộc.

Thứ ba, theo Khoản 5 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 quy định nếu người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, mà không hưởng tiền lương từ đủ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì người lao động không phải đóng BHXH của tháng đó, trừ khi giữa hai bên có thỏa thuận về việc đóng BHXH với căn cứ đóng bằng căn cứ đóng BHXH gần nhất.

Như vậy, trong trường hợp bạn ký hợp đồng cộng tác nhưng có thời hạn hợp đồng chưa đủ 01 tháng hoặc có thời hạn hợp đồng đủ 01 tháng nhưng tổng thời gian không hưởng lương từ đủ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không phải đóng BHXH của tháng đó, trừ khi các bên có thỏa thuận về việc đóng BHXH.

Với các trường hợp còn lại, người lao động và người sử dụng lao động cùng có trách nhiệm tham gia BHXH bắt buộc. Trong trường hợp vi phạm, tùy đối tượng thực hiện và hành vi cụ thể sẽ áp dụng mức phạt khác nhau theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng có hiệu lực áp dụng từ ngày 10/09/2026. Cụ thể:

- Trường hợp người lao động thỏa thuận với người sử dụng lao động không tham gia BHXH bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp hoặc tham gia không đúng đối tượng hoặc tham gia không đúng mức quy định hoặc tham gia không đúng thời hạn quy định thì bị phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng, theo Điểm a Khoản 2 Điều 48 Nghị định 283.

- Trường hợp người sử dụng lao động không đăng ký hoặc đăng ký không đầy đủ số người phải tham gia BHXH bắt buộc trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày hết hạn thì bị phạt từ 5.000.000 đồng đến 75.000.000 đồng tùy theo số lượng người lao động bị vi phạm, theo Khoản 2 Điều 43 Nghị định 283.

Tên gọi “hợp đồng cộng tác viên” không tự động quyết định một người có thuộc diện tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hay không. Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2024, cơ quan chức năng phải xem xét bản chất của thỏa thuận, đặc biệt là nội dung về việc làm có trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên. Nếu hợp đồng mang đầy đủ những dấu hiệu trên, thỏa thuận dù được đặt tên là hợp đồng cộng tác vẫn có thể được xác định là hợp đồng lao động. Theo điểm a khoản 1 Điều 2 Luật Bảo hiểm xã hội 2024, người làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Với trường hợp nhận việc riêng lẻ theo từng tour, không có thời gian làm việc cố định và không chịu sự quản lý thường xuyên, cần đối chiếu cụ thể quyền, nghĩa vụ được ghi trong từng hợp đồng. Nếu hợp đồng cộng tác thực chất là hợp đồng lao động nhưng có thời hạn chưa đủ 01 tháng thì người làm việc không thuộc nhóm nêu tại điểm a khoản 1 Điều 2; nếu thời hạn từ đủ 01 tháng trở lên, nguyên tắc chung là người lao động và người sử dụng lao động phải cùng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Khoản 5 Điều 33 Luật Bảo hiểm xã hội 2024 còn quy định người thuộc diện tham gia nhưng không hưởng tiền lương từ đủ 14 ngày làm việc trở lên trong tháng thì không phải đóng bảo hiểm xã hội của tháng đó, trừ trường hợp hai bên thỏa thuận tiếp tục đóng theo căn cứ gần nhất. Vì vậy, doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào nhãn “cộng tác viên” để loại trừ nghĩa vụ, song cũng không thể mặc nhiên coi mọi hợp đồng cộng tác đều phải đóng bảo hiểm xã hội. Khi có hành vi thỏa thuận không tham gia, tham gia sai đối tượng hoặc sai mức, trách nhiệm xử phạt được xem xét theo Nghị định 283/2026/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 10/09/2026, tùy chủ thể và hành vi vi phạm cụ thể.