Bỏ qua điều hướng
•

Công nghệ sinh học mở đường cho mục tiêu đóng góp 15% GDP

Công nghệ sinh học mở đường cho mục tiêu đóng góp 15% GDP
Nguồn ảnh: Thanh Niên

Công nghệ sinh học, AI và dữ liệu lớn đang định hình mô hình "sinh học kỹ thuật số", tạo đòn bẩy để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu đưa kinh tế sinh học đóng góp 10 - 15% GDP vào năm 2045.

Báo cáo từ Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) cho thấy quy mô kinh tế sinh học toàn cầu hiện đạt khoảng 5.000 tỉ USD và dự báo chạm mốc 30.000 tỉ USD vào năm 2050, tương đương một phần ba tổng giá trị kinh tế thế giới. Tại Việt Nam, với quy mô nền kinh tế đạt 514 tỉ USD cùng khu vực nông - lâm - thủy sản đóng góp từ 11% đến 12% GDP, Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị đã xác lập mục tiêu đưa ngành công nghệ sinh học đóng góp khoảng 7% vào GDP vào năm 2030 và đạt 10 - 15% GDP vào năm 2045.

Trong bối cảnh đó, tại Hội thảo "Kinh tế sinh học và thương mại hóa công nghệ sinh học: Động lực tăng trưởng mới trong kỷ nguyên số" do Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VASTI) phối hợp cùng Cục Thông tin và Thống kê (NASTIS - Bộ Khoa học và Công nghệ) tổ chức chiều 15.10, các chuyên gia nhận định kinh tế sinh học đang bước vào chu kỳ tái cấu trúc mạnh mẽ nhờ chuyển đổi số.

Công nghệ sinh học mở đường cho mục tiêu đóng góp 15% GDP - Ảnh 1.

TS Trần Văn Tùng, Chủ tịch VASTI nhận định Việt Nam sở hữu lợi thế lớn khi có độ đa dạng sinh học trong nhóm đầu thế giới

Ảnh: CTV

Điểm đột phá của giai đoạn phát triển mới nằm ở xu hướng "sinh học kỹ thuật số" - sự tích hợp giữa khoa học sự sống với trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) và điện toán đám mây. TS Trần Văn Tùng, Chủ tịch VASTI, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, nhận định mô hình tăng trưởng truyền thống dựa trên khai thác tài nguyên hóa thạch hoặc lao động giá rẻ không còn đáp ứng được yêu cầu phát triển bền vững.

"Sự xuất hiện của sinh học kỹ thuật số đang rút ngắn quy trình nghiên cứu vốn kéo dài hàng thập kỷ trước đây xuống nhiều lần, giúp giảm chi phí R&D và hạ thấp rào cản đưa phát minh từ phòng thí nghiệm vào thực tiễn sản xuất", ông Trần Văn Tùng đánh giá. Sự kết hợp này biến các chuỗi dữ liệu sinh học và giải mã gen thành tài nguyên thông tin có thể phân tích, mô phỏng và thương mại hóa thành các tài sản tài chính giá trị cao.

Dù sở hữu tiềm năng lớn, hành trình đưa công nghệ sinh học ra thị trường vẫn vấp phải nhiều rào cản mang tính hệ thống. Thống kê từ Cục Thông tin, Thống kê và Đánh giá khoa học cho thấy tỷ lệ sáng chế được thương mại hóa tại Việt Nam hiện ở mức dưới 1%, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 5% của thế giới và mục tiêu 8% vào năm 2030 theo Nghị quyết số 57-NQ/TW.

Chia sẻ tại sự kiện PGS-TS Phí Quyết Tiến, Viện trưởng Viện Sinh học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam chỉ ra điểm nghẽn lớn nhất chính là giai đoạn mở rộng quy mô sản xuất bán công nghiệp, nơi các nghiên cứu dễ rơi vào "thung lũng chết" do thiếu hụt dòng vốn đầu tư mạo hiểm và thiếu cơ chế đặt hàng dài hạn từ phía thị trường.

Công nghệ sinh học mở đường cho mục tiêu đóng góp 15% GDP - Ảnh 2.

PGS-TS Huỳnh Thành Đạt chia sẻ tại sự kiện

Ảnh: Anh Quân

Bên cạnh bài toán quy mô, rào cản pháp lý trong việc định giá tài sản công cũng là nút thắt cần sớm tháo gỡ. PGS-TS Nguyễn Minh Tân, Trường Hóa và Khoa học Sự sống thuộc Đại học Bách khoa Hà Nội, cho biết các cơ sở nghiên cứu công lập hiện lúng túng khi đưa tài sản trí tuệ vào giao dịch vì thiếu các tiền lệ chuẩn mực.

Bà Tân kiến nghị cần sớm ban hành hướng dẫn chi tiết cùng các chương trình thử nghiệm thực tế (sandbox) về quy trình định giá và phân định trách nhiệm; "không thể áp đặt cứng nhắc rằng một đề tài nhận ngân sách 5 tỉ đồng thì bắt buộc phải định giá chuyển giao ngang hoặc cao hơn con số đó, mà phải căn cứ vào mức giá mà thị trường sẵn sàng chi trả".

Trước những thách thức trên, PGS-TS Huỳnh Thành Đạt, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết về việc hoàn thiện thể chế và thúc đẩy liên kết thực chất giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Việc đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm của chuỗi đổi mới sáng tạo, chủ động đồng hành và chia sẻ rủi ro với nhà khoa học ngay từ khâu thiết kế bài toán công nghệ, kết hợp cùng các công cụ số hóa quy trình, sẽ là chìa khóa để khơi thông nguồn lực tri thức và chuyển hóa lợi thế đa dạng sinh học thành động lực tăng trưởng thực chất cho nền kinh tế số.

Theo các chuyên gia tại Hội thảo do Hội Thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam phối hợp cùng Cục Thông tin và Thống kê tổ chức ngày 15.10, kinh tế sinh học toàn cầu dự báo đạt quy mô 30.000 tỉ USD vào năm 2050. Tại Việt Nam, Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt mục tiêu đưa ngành công nghệ sinh học đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và hướng tới 10 đến 15% GDP vào năm 2045. Đây được coi là đòn bẩy chiến lược cho nền kinh tế quy mô 514 tỉ USD, vốn có khu vực nông, lâm, thủy sản chiếm từ 11% đến 12% GDP. Động lực tăng trưởng đột phá hiện nay đến từ mô hình sinh học kỹ thuật số, nơi khoa học sự sống tích hợp chặt chẽ với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và điện toán đám mây. TS Trần Văn Tùng, Chủ tịch VASTI, nhận định mô hình này giúp rút ngắn đáng kể quy trình nghiên cứu, giảm chi phí R&D và chuyển đổi chuỗi dữ liệu sinh học thành tài sản giá trị cao. Việc ứng dụng công nghệ số đang dần thay thế phương thức khai thác tài nguyên truyền thống, mở ra hướng đi bền vững dựa trên lợi thế đa dạng sinh học hàng đầu thế giới của Việt Nam. Tuy nhiên, khoảng cách từ phòng thí nghiệm ra thị trường vẫn tồn tại nút thắt lớn khi tỷ lệ sáng chế được thương mại hóa trong nước hiện dưới 1%, thấp hơn nhiều mức bình quân 5% của thế giới. PGS-TS Phí Quyết Tiến chỉ ra giai đoạn thử nghiệm bán công nghiệp dễ rơi vào thung lũng chết do thiếu hụt vốn đầu tư mạo hiểm cùng cơ chế đặt hàng dài hạn. Đồng thời, PGS-TS Nguyễn Minh Tân từ Đại học Bách khoa Hà Nội nhấn mạnh rào cản định giá tài sản công cũng khiến các cơ sở nghiên cứu lúng túng khi giao dịch tài sản trí tuệ.
amung