Tối ưu chi phí logistics từ vị trí kết nối chiến lược
Trong ma trận chi phí vận hành của các doanh nghiệp sản xuất, logistics luôn là một trong những bài toán hóc chuẩn nhất. Báo cáo của Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) chỉ ra rằng chi phí logistics tại Việt Nam hiện vẫn chiếm khoảng 16 - 20% GDP, cao hơn đáng kể so với mức trung bình 10 - 12% của các nước phát triển. Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đòi hỏi sự linh hoạt và tối ưu hóa từng khâu, vị trí địa lý của khu công nghiệp (KCN) không còn dừng lại ở khái niệm mặt bằng sản xuất, mà đã trở thành yếu tố then chốt quyết định năng lực cạnh tranh và dòng tiền của nhà đầu tư. Là đơn vị có nhiều kinh nghiệm phát triển các KCN bài bản hàng đầu Việt Nam, Công ty CP Thanh Bình Phú Mỹ cho thấy một chiến lược chọn vị trí cực kỳ nhất quán: đặt các dự án trọng điểm ngay tại những giao điểm logistics quốc gia, nơi hạ tầng giao thông đa phương thức đã và đang sẵn sàng bứt phá.
Điển hình rõ nhất chính là KCN Chuyên sâu Phú Mỹ 3 quy mô 999 ha tại Bà Rịa - Vũng Tàu. Dự án sở hữu lợi thế hiếm có khi chỉ cách cụm cảng nước sâu Cái Mép - Thị Vải khoảng 2 km. Với độ sâu luồng hàng hải đạt tới -16,8 m, Cái Mép - Thị Vải hiện là cụm cảng biển duy nhất tại Việt Nam có các chuyến tàu mẹ tải trọng lớn chở container đi thẳng tới châu Âu và bờ đông, bờ tây Bắc Mỹ mà không phải qua trạm trung chuyển ở nước thứ ba. Việc nằm ngay sát nách một "trạm luân chuyển toàn cầu" giúp các doanh nghiệp trong KCN Phú Mỹ 3 giảm thiểu tối đa quãng đường vận chuyển nội địa, cắt giảm chi phí nhiên liệu, phí cầu đường và nguy cơ rủi ro ùn tắc giao thông. Bên cạnh đó, dự án còn nằm trên trục kết nối huyết mạch với Sân bay quốc tế Long Thành và hệ thống đường cao tốc Biên Hòa - Vũng Tàu, hình thành nên hành lang vận tải đa phương thức hoàn chỉnh gồm đường bộ, đường thủy nội địa, đường biển và đường hàng hải quốc tế.
Tư duy quy hoạch gắn liền với cửa ngõ giao thương tiếp tục được Thanh Bình Phú Mỹ mở rộng ra khu vực miền Trung với dự án Khu công nghiệp Hòa Ninh (Phú Mỹ 3 Đà Nẵng IP) mới khởi công tại Đà Nẵng với quy mô hơn 400 ha, tổng vốn đầu tư hơn 6.200 tỉ đồng. Đà Nẵng từ lâu đã được định hình là hạt nhân kinh tế của Vùng kinh tế trọng điểm miền Trung, cửa ngõ ra biển Đông của Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC). Bằng việc phát triển hạ tầng công nghiệp tại đây, dự án kết nối trực tiếp với hệ thống cảng biển quốc tế như Tiên Sa, cảng nước sâu Liên Chiểu đang trong quá trình đầu tư, cùng Sân bay quốc tế Đà Nẵng. Cấu trúc giao thông đồng bộ này cho phép các doanh nghiệp sản xuất tại miền Trung dễ dàng tiếp cận nguồn nguyên liệu nhập khẩu cũng như xuất khẩu hàng hóa sang các thị trường khu vực Đông Nam Á và Đông Á với chi phí hành trình thấp nhất.

Với vị trí chiến lược kết hợp với cơ sở hạ tầng đồng bộ, hiện đại, KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 là nơi đầu tư lý tưởng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước
ẢNH: P.M
Thực tế vận hành cho thấy, việc rút ngắn khoảng cách từ nhà máy ra cảng biển hay sân bay không đơn thuần là tiết kiệm vài chục kilômét đường bộ, mà mang lại "lợi ích kép" về mặt tài chính và thời gian. Đại diện một doanh nghiệp FDI ngành cơ khí chính xác đang hoạt động tại KCN Phú Mỹ 3 chia sẻ: "Khi nhà máy chỉ cách cụm cảng Cái Mép khoảng vài phút di chuyển, chi phí vận tải nội địa (feeder/trucking) trên mỗi container của chúng tôi giảm từ 15% - 20% so với việc đặt nhà máy sâu trong nội địa. Quan trọng hơn, áp lực về hạ tầng giao thông gần như triệt tiêu, giúp doanh nghiệp chủ động hoàn toàn lịch trình đóng hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ và châu Âu mà không lo trễ tàu do ùn tắc".
Khi thời gian luân chuyển hàng hóa được tính bằng giờ thay vì bằng ngày, doanh nghiệp còn có thể chủ động tối ưu hóa quản trị kho hàng theo mô hình Just-In-Time (JIT), giảm chi phí lưu kho và rút ngắn tối đa chu kỳ sản xuất. Đây chính là mảnh ghép đầu tiên nhưng mang tính quyết định giúp các dự án của Thanh Bình Phú Mỹ biến lợi thế vị trí địa lý thuần túy thành thước đo lợi nhuận và năng lực cạnh tranh thực tế cho các nhà đầu tư.
Xây dựng hệ sinh thái logistics tích hợp
Nhìn ra thế giới, cuộc đua thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ lâu đã bước sang một giai đoạn mới. Tại Singapore, mô hình công nghiệp liền kề cảng Jurong hay các trung tâm logistics tích hợp tại Changi không đơn thuần cung cấp hạ tầng nhà xưởng. Họ tạo ra một hệ sinh thái khép kín: nơi container nguyên liệu vừa rời tàu biển có thể đi thẳng vào hạ tầng cảng cạn (ICD), hoàn tất thủ tục thông quan ngay trong nội khu, sau đó phân phối trực tiếp tới dây chuyền sản xuất của nhà máy chỉ trong vài mươi phút. Tương tự, tại "thủ phủ công nghiệp" Ulsan của Hàn Quốc, sự kết nối giữa khu công nghiệp, cảng nội địa và hệ thống kho vận thông minh đã biến nơi đây thành trung tâm sản xuất - xuất khẩu có chi phí vận hành tối ưu hàng đầu châu Á. Điểm chung của các mô hình thành công này là coi cảng cạn, kho bãi và dịch vụ logistics là "trái tim" nằm ngay bên trong khu công nghiệp, thay vì đẩy chúng ra bên ngoài như những mảnh ghép rời rạc.
Tại Việt Nam, sự chuyển dịch từ mô hình KCN cho thuê đất thuần túy sang hệ sinh thái công nghiệp tích hợp đang được Công ty CP Thanh Bình Phú Mỹ cụ thể hóa một cách bài bản. Thay vì chỉ chuẩn bị mặt bằng thô rồi chờ doanh nghiệp đến tự xoay xở bài toán vận tải, chủ đầu tư này chọn cách chủ động xây dựng một hệ sinh thái logistics đa tầng ngay từ trong lõi dự án.
Bà Nguyễn Thị Thảo Nhi, Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty CP Thanh Bình Phú Mỹ từng nhiều lần nhấn mạnh, Phú Mỹ 3 không được quy hoạch để trở thành một KCN bán hay cho thuê đất thô thuần túy. Mục tiêu xuyên suốt của Thanh Bình Phú Mỹ là kiến tạo một hệ sinh thái công nghiệp - logistics hoàn chỉnh, nơi nhà đầu tư FDI khi bước chân vào có thể tiếp cận ngay toàn bộ hạ tầng dịch vụ hỗ trợ tối ưu nhất, từ khâu làm thủ tục thông quan, lưu kho bãi cho đến vận tải đa phương thức.

Khảo sát KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được đánh giá cao quy hoạch, hiệu quả đầu tư và xem đây là mô hình TP.HCM hướng tới trong phát triển KCN
ẢNH: P.M
Minh chứng rõ nét nhất chính là Cảng cạn Phú Mỹ (Phu My ICD) nằm ngay trong lòng Khu công nghiệp chuyên sâu Phú Mỹ 3. Với quy mô 38 ha, tổng chiều dài cầu cảng 600 m có khả năng tiếp nhận sà lan tải trọng lớn, đây là cảng cạn đầu tiên của Bà Rịa - Vũng Tàu và thuộc top hạ tầng cảng cạn quy mô lớn bậc nhất khu vực phía nam. Việc tích hợp một ICD nằm ngay trong KCN tạo ra một cơ chế vận hành vô cùng linh hoạt. Hàng hóa xuất nhập khẩu của các nhà máy nội khu được làm thủ tục hải quan, soi chiếu, kiểm hóa và lưu kho ngay tại chỗ. Container rỗng, kho CFS, kho ngoại quan và hệ thống bãi depot đều sẵn có ngay trước cửa nhà máy. Nhờ đó, dòng luân chuyển hàng hóa không bị đứt gãy, giảm tối đa cước phí trung chuyển và loại bỏ hoàn toàn tình trạng container phải xếp hàng chờ đợi nhiều giờ tại các cổng cảng biển khống chế tải trọng.
Theo thông tin từ chủ đầu tư, tỷ suất đầu tư bình quân trên 1 ha đất công nghiệp cho thuê tại KCN này đạt khoảng 10 - 12 triệu USD, thuộc nhóm cao so với mặt bằng chung của các KCN tại Việt Nam. Điều này cho thấy KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 không chỉ thu hút được vốn đầu tư lớn mà còn thu hút được các dự án có quy mô và hàm lượng đầu tư cao.
Khảo sát KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 trong chuyến công tác tháng 7 vừa qua, Chủ tịch UBND TP.HCM Nguyễn Văn Được đánh giá cao những tiềm năng, thế mạnh và những thành công mà KCN đạt được trong thời gian qua. Theo ông Được, KCN chuyên sâu Phú Mỹ 3 có quy hoạch bài bản; quy chế hoạt động, quản lý của khu công nghiệp hiện đại, cung cấp đầy đủ các tiện ích cho nhà đầu tư. "KCN đang làm hồ sơ sinh thái, tỷ suất đầu tư cao, đây là khu công nghiệp rất hiệu quả. Đây cũng là mẫu mô hình mà thành phố muốn tìm đến và phát triển", lãnh đạo TP.HCM nhấn mạnh.
Không dừng lại ở hạ tầng phần cứng, hệ sinh thái này còn được mở rộng ra bên ngoài thông qua việc kết nối chuỗi cung ứng tổng thể. Tại các dự án của Thanh Bình Phú Mỹ, hạ tầng kho bãi hiện đại quy mô lớn được thiết kế tích hợp công nghệ quản lý vận hành thông minh, sẵn sàng phục vụ cho cả các ngành công nghiệp phụ trợ, hóa chất, cơ khí chế tạo lẫn hàng tiêu dùng. Khi một nhà máy hoạt động, họ không cần phải tự đầu tư xây dựng kho bãi quá rộng hay tự vận hành đội xe tải riêng. Toàn bộ các công đoạn từ quản lý kho, bảo quản nguyên liệu, đóng gói đến vận tải đa phương thức ra cảng biển hay sân bay đều có thể sử dụng hạ tầng dịch vụ dùng chung ngay trong hệ sinh thái.
Xu hướng chuyển dịch hạ tầng công nghiệp
Nhiều thập kỷ qua, công thức chung của hạ tầng công nghiệp Việt Nam chủ yếu xoay quanh việc đền bù giải phóng mặt bằng, làm đường nội khu, đấu nối điện nước rồi chia lô cho thuê đất thô. Mô hình này từng phát huy hiệu quả trong giai đoạn đầu thu hút dòng vốn FDI nhờ lợi thế giá đất rẻ và nhân công dồi dào. Tuy nhiên, khi nền kinh tế chuyển dịch lên nấc thang giá trị cao hơn, mô hình "bán đất thô" bắt đầu bộc lộ rõ những giới hạn: tính liên kết kém, giá trị gia tăng thấp và dễ rơi vào bẫy cạnh tranh bằng giá.
Sự bứt phá của Khu công nghiệp chuyên sâu Phú Mỹ 3 tại Bà Rịa - Vũng Tàu chính là minh chứng điển hình cho một "công thức thành công" hoàn toàn mới: phát triển hạ tầng công nghiệp dựa trên tư duy tích hợp hệ sinh thái đa chức năng. Với quy mô 999 ha, Phú Mỹ 3 không chọn cách lấp đầy diện tích bằng mọi giá, mà kiên trì theo đuổi chiến lược thu hút các ngành công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, hóa chất và vật liệu mới. Tính đến nay, KCN đã thu hút gần 6 tỉ USD vốn đầu tư, trở thành bệ phóng cho hàng loạt tập đoàn đa quốc gia đến từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Châu Âu và Mỹ.
Chìa khóa tạo nên sức hút khác biệt của Phú Mỹ 3 nằm ở khả năng giải quyết đồng thời hai bài toán cốt lõi của nhà đầu tư: tối ưu hóa chi phí vận hành và đảm bảo tính bền vững của chuỗi cung ứng. Việc tích hợp Cảng cạn Phú Mỹ (Phu My ICD) 38 ha, hệ thống kho bãi 80.000 m² cùng trung tâm phân phối nằm ngay trong nội khu giúp rút ngắn tối đa chu kỳ luân chuyển hàng hóa, biến KCN này thành một trung tâm chuỗi cung ứng toàn cầu thu nhỏ. Nhà đầu tư bước chân vào đây không chỉ thuê một khu đất sản xuất, mà được thừa hưởng toàn bộ một bộ máy hậu cần và logistics đã sẵn sàng vận hành mượt mà.
Công thức thành công này đang phản ánh chính xác xu hướng chuyển dịch tất yếu của hạ tầng công nghiệp hiện đại trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Ngày nay, các tập đoàn đa quốc gia khi tìm kiếm điểm đến đầu tư không còn chỉ hỏi về giá thuê mỗi mét vuông hay thời gian miễn giảm thuế. Những câu hỏi hàng đầu đã chuyển sang: hàng hóa xuất từ nhà máy mất bao lâu ra tới cảng biển? Hệ thống kho bãi có tích hợp công nghệ quản lý thông minh không? KCN có đáp ứng các tiêu chuẩn chuyển đổi xanh và giảm phát sinh khí thải logistics hay không?...
Ông Trần Chí Dũng, Ủy viên Ban Thường vụ Hiệp hội Doanh nghiệp dịch vụ logistics Việt Nam (VLA) đánh giá cao mô hình này bởi nó tạo nên một mạng lưới cộng sinh công nghiệp: năng lực của đơn vị này trở thành đầu vào dịch vụ của đơn vị khác. Đây chính là bệ đỡ giúp giảm thiểu tối đa rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng trong các đợt biến động toàn cầu, đồng thời đặt nền móng vững chắc cho mô hình KCN hiện đại. Theo ông, trong tổng thể một hệ sinh thái logistics và chuỗi cung ứng, khả năng thu hút nguồn lực đầu tư, kết nối hạ tầng, phát triển hệ thống dịch vụ phía sau cảng và thu hút nguồn hàng là những yếu tố mang tính quyết định.
Ông Trần Chí Dũng:
Một cảng nước sâu có thể tiếp nhận tàu lớn chưa mặc nhiên trở thành một trung tâm logistics quốc tế. Giá trị thực sự chỉ hình thành khi phía sau cảng tồn tại mạng lưới ICD, depot, kho bãi, trung tâm phân phối, khu công nghiệp, khu thương mại tự do và hệ thống vận tải đa phương thức đủ mạnh để đưa hàng hóa tới và rời cảng với chi phí, thời gian và độ tin cậy cạnh tranh. Do đó, các mô hình KCN chuyên sâu tích hợp cảng cạn, hệ thống kho bãi và trung tâm phân phối… chính là mảnh ghép hoàn thiện hạ tầng cho cụm cảng nước sâu, biến toàn bộ hệ sinh thái này thành thước đo hiệu quả thực tế cho dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam".