Luẩn quẩn chạy đua nâng đường, nâng nhà
Dự án chống ngập đường Đặng Thùy Trâm thuộc P.Bình Lợi Trung khởi công vào đầu năm 2026, đến nay đã đạt 70% tiến độ; dự kiến sẽ hoàn thành và đưa vào sử dụng vào tháng 12.2026. Người dân mong công trình sớm hoàn thành để ổn định cuộc sống và thoát cảnh ngập nặng thường xuyên mỗi khi mưa lớn và triều cường cao. Song bên cạnh sự mong chờ ấy là nỗi lo lớn khi nhiều ngôi nhà bị "tụt xuống" gần cả mét so với mặt đường vì công trình nối từ đường Lương Ngọc Quyến đến sông Vàm Thuật được nâng cao từ 1 - 1,1 m. Các hộ dân sống dọc đường Đặng Thùy Trâm cho biết trước kia nhà cao hơn đường 30 - 50 cm giờ thì nền nhà lọt thỏm so với mặt đường. Khi trời nắng thì thành hầm tối, còn khi mưa thì như ao chứa nước, muốn ra vào phải đắp đất hoặc làm cầu. Vì vậy, bà con mong công trình sớm hoàn thành không chỉ để bớt bụi bẩn vào ngày nắng, sình lầy vào lúc mưa mà còn để tôn nền chống ngập cho chính ngôi nhà của mình.

Nhiều năm qua, người dân và chính quyền địa phương tại TP.HCM chạy đua nâng nền chống ngập. Các chuyên gia cho rằng đã đến lúc phải hình thành một cốt nền mới cho quy hoạch đô thị
ảnh: Nhật Thịnh
Trước đó, đường Đặng Thùy Trâm và khu dân cư Bình Lợi thường xuyên đối mặt tình trạng ngập nước khi mưa lớn và triều cường. Nay đường Đặng Thùy Trâm được nâng cao, nhà dân cũng sẽ nâng theo và thường là cao hơn mặt đường. Nước không có chỗ thoát sẽ chảy vào các con hẻm và những khu dân cư lân cận. Và việc nâng đường, nâng hẻm, nâng nhà ở những khu vực lân cận sẽ tiếp tục...
Mưa lớn gây ngập sâu ở TP.HCM: Người livestream cảnh báo, sinh viên đẩy xe giúp người đi đường
Thực tế đang diễn ra trên đường Đặng Thùy Trâm cũng là "điệp khúc" đã lặp đi lặp lại nhiều lần ở các dự án án chống ngập khác trên địa bàn TP.HCM. Những năm qua, trên các "vành đai ngập" thuộc các phường Thủ Đức, Hiệp Bình, Bình Trị Đông, An Lạc... Đặc biệt, tại khu vực đang là điểm nóng sụt lún của TP.HCM là P.An Lạc, nhiều tuyến đường hễ cứ mưa là ngập, bất chấp lớn nhỏ. Và để chống ngập cho chính ngôi nhà của mình, cứ 3 - 5 năm người dân lại phải nâng nền một lần. Một số chủ nhà cho biết mỗi lần như vậy ít nhất phải tôn cao thêm 0,5 m và để chống ngập một cách hiệu quả thì phải "dẫn" cốt nền từ đại lộ Võ Văn Kiệt về. Tuy nhiên, việc lấy chuẩn cốt nền này sẽ tốn rất nhiều chi phí để tôn nền và xây dựng nên họ đành chọn cách chống ngập theo "thời vụ". Nghĩa là ngập tới đâu chống đến đó và tôn nền nhà lên theo cao trình mặt đường.

Những ngày cuối tháng 9 đầu tháng 10, người dân TP.HCM đối mặt với tình trạng mưa lớn và triều cường cao gây ngập sâu
ẢNH: NHẬT THỊNH
Nhưng thực tế không phải cứ nâng nền càng cao càng tốt. Nếu chỉ chạy theo việc nâng đường, nâng nhà mà không tính đến toàn bộ hệ thống thủy văn thì có thể xảy ra tình trạng nơi này được bảo vệ nhưng nước lại dồn sang nơi khác. Nâng đường có thể làm ngập nhà, nâng đô thị mới có thể làm gia tăng áp lực ngập cho đô thị cũ.
Đã đến lúc phải hình thành một cốt nền mới cho quy hoạch đô thị, trong đó biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún và các nguy cơ thiên tai phải được xem là dữ liệu đầu vào ngay từ đầu, thay vì chỉ được bổ sung sau khi đồ án quy hoạch đã hình thành.
Cốt nền, nút thắt chống ngập?
TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường, cho biết TP.HCM đang dựa trên hệ cao độ quốc gia Hòn Dấu. Đây là hệ cao độ chuẩn quốc gia, và cao độ xây dựng của TP.HCM được quy đổi theo hệ này. TP.HCM cũng có cốt xây dựng khống chế tối thiểu +2,05 m. Một số đồ án quy hoạch chi tiết có thể xác định cao độ cao hơn tùy địa hình và yêu cầu thoát nước. Một cốt nền khác là cốt nền/cao độ xây dựng của từng khu vực, được sử dụng khi triển khai quy hoạch cụ thể. Các khu vực có địa hình khác nhau sẽ có cốt khác nhau. "Các chuyên gia quy hoạch trước đây đã lưu ý rằng Củ Chi, Nhà Bè hay các khu vực khác không thể áp một cốt duy nhất. Ví dụ, khu đô thị mới Thủ Thiêm từng được xác định cốt xây dựng khoảng +2,5 m, cao hơn mức khống chế chung +2,05 m", ông Thuận dẫn chứng.

Nhiều "vành đai ngập" ở TP.HCM chìm trong biển nước trong đợt mưa lớn vừa qua, như trên đường Phan Huy Ích (khu vực Q.Gò Vấp cũ)
ẢNH: Nhật Thịnh
Nhưng theo TS Nguyễn Viết Thuận, hiện nay xuất hiện một vấn đề rất lớn, mốc chuẩn và mặt đất thực tế không còn đứng yên. TP.HCM đang phải xử lý tình trạng mốc cao độ ngoài thực địa bị ảnh hưởng bởi sụt lún. Nghiên cứu được công bố năm 2024 cho thấy TP.HCM có tốc độ sụt lún phổ biến khoảng 2 - 5 cm/năm, một số khu vực có thể đạt 7 - 8 cm/năm. Từ năm 2019, TP.HCM đã triển khai dự án "Xác định lại cao độ hệ thống mốc độ cao bị sụt lún trên địa bàn TP.HCM", căn cứ 23 mốc cao độ hạng II do Bộ TN-MT cung cấp để khôi phục, xác định lại giá trị cao độ mới vào hệ thống mốc độ cao hạng IV của TP. Đồng thời, từ năm 2022, TP.HCM cũng đã triển khai xây dựng 4 điểm mốc độ cao thế kỷ đặt tại Q.12, Củ Chi, Cần Giờ và Bình Chánh (cũ).
"TP.HCM đang triển khai song song Quy hoạch chuyên ngành cao độ nền và thoát nước thời kỳ 2025 - 2050 lồng ghép vào Quy hoạch tổng thể đang được lập. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng và sụt lún đất diễn biến ngày càng phức tạp, việc xác định cao độ xây dựng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào những dữ liệu thủy văn và hiện trạng địa hình của quá khứ. TP.HCM đang đứng trước yêu cầu phải thay đổi căn bản tư duy về cao độ nền trong quy hoạch đô thị giai đoạn 2025 - 2050. Các phương án đang được các đơn vị tư vấn, chuyên gia nghiên cứu theo hướng nâng cao độ xây dựng lên khoảng 2,5 - 3,2 m, tùy từng khu vực và kịch bản. Có ý kiến đề xuất khu vực trung tâm cần đạt khoảng 3 m, khu vực ven sông Sài Gòn khoảng 3,5 m và Cần Giờ khoảng 4 m. Tuy nhiên việc xác định một con số chung cho toàn TP là chưa đủ, bởi TP.HCM có địa hình, nền đất và mức độ sụt lún rất khác nhau. Trong quá trình lập quy hoạch chuyên ngành cao độ nền và thoát nước thời kỳ 2025 - 2050 để tích hợp vào quy hoạch chung, TP.HCM cần tính toán lại toàn bộ cao độ khống chế trên cơ sở các kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng và tốc độ sụt lún thực tế của từng khu vực", TS Phạm Viết Thuận khuyến nghị.
Kiến trúc sư (KTS) Khương Văn Mười, nguyên Chủ tịch Hội KTS TP.HCM, cũng lưu ý: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, nước biển dâng và tình trạng sụt lún diễn ra tại nhiều đô thị, cách tiếp cận quy hoạch dựa chủ yếu trên hiện trạng về dân số, giao thông, sử dụng đất đang bộc lộ nhiều hạn chế. Vì vậy, đã đến lúc phải hình thành một cốt nền mới cho quy hoạch đô thị, trong đó biến đổi khí hậu, nước biển dâng, sụt lún và các nguy cơ thiên tai phải được xem là dữ liệu đầu vào ngay từ đầu, thay vì chỉ được bổ sung sau khi đồ án quy hoạch đã hình thành.
Chống ngập bằng cách quản trị nước và mô hình thành phố bọt biển
TP.HCM cần chuyển từ tư duy "chạy đua nâng nền" sang quản trị nước theo lưu vực, có thể tiếp cận theo mô hình "thành phố bọt biển", trong đó hệ thống đê, cống, trạm bơm được kết hợp với các không gian có khả năng giữ, thấm và điều tiết nước. Việc quản lý theo 14 lưu vực thủy lực cần được đặt trong một tổng thể thống nhất, cùng với hệ thống hồ điều hòa, công viên ngập nước, hành lang thoát nước và các khu vực có chức năng trữ nước. Khi đó, nước không chỉ được xem là yếu tố cần nhanh chóng đưa ra khỏi đô thị mà còn được xem là một nguồn lực cần được quản lý và điều tiết.
Bên cạnh đó, TP cần dành lại không gian cho nước. Có những nơi không nhất thiết phải cố xây dựng bằng mọi giá mà có thể quy hoạch thành hồ điều hòa, công viên ngập nước, vùng sinh thái hoặc không gian trữ nước. Đây chính là tư duy thích ứng thay vì chỉ chống lại tự nhiên. TP.HCM phải đặc biệt quan tâm hệ thống mốc cao độ. Hiện đang tồn tại sự chuyển tiếp giữa các hệ mốc cao độ khác nhau, trong đó có các hệ mốc cũ và hệ mốc được thiết lập, cập nhật trong những giai đoạn sau. Sự khác biệt giữa các hệ mốc có thể dẫn đến độ lệch khi triển khai các dự án hạ tầng, đặc biệt tại những khu vực cần đấu nối đồng bộ hệ thống đường giao thông và thoát nước.
TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường
Giải bài toán cốt nền thế nào?
TS Phạm Viết Thuận lo ngại: Vấn đề lớn hơn nằm ở chỗ nền đất của TP.HCM đang tiếp tục lún. Một số khu vực có tốc độ sụt lún được ghi nhận ở mức vài cm mỗi năm, thậm chí cao hơn tại một số điểm. Khi nền đất liên tục hạ thấp, các mốc cao độ nếu không được kiểm tra, cập nhật thường xuyên sẽ không còn phản ánh chính xác điều kiện thực tế ngoài hiện trường. Không thể quy hoạch cao độ nền cho 30 - 50 năm tới mà lại sử dụng một mặt bằng dữ liệu tĩnh. Do vậy, TP cần có hệ thống quan trắc liên tục về sụt lún, mực nước, triều cường, lượng mưa cực đoan và nước biển dâng. Dữ liệu phải được cập nhật vào quy hoạch theo thời gian thực hoặc theo những chu kỳ đủ ngắn để kịp thời điều chỉnh. Đây chính là ý nghĩa của một cốt nền mới cho TP.HCM. Đó không chỉ là một con số cao độ tối thiểu, mà phải là một hệ thống dữ liệu và nguyên tắc xác định khả năng phát triển của từng khu vực.

Nhiều năm qua, người dân và chính quyền địa phương chạy đua nâng nền chống ngập. Trong ảnh: Đường Đặng Thùy Trâm sau cải tạo đã cao hơn nhà dân cả mét
ẢNH: Hà Thương
"Trong quy hoạch không gian đô thị, trước khi hỏi khu vực này được phép xây dựng bao nhiêu tầng, mật độ bao nhiêu hay phát triển chức năng gì, phải trả lời được nền đất đang ở đâu, đang sụt lún với tốc độ nào, nguy cơ ngập trong 30 - 50 năm tới ra sao và hệ thống hạ tầng có đủ sức chịu đựng hay không. Đây phải là những điều kiện đầu vào của quy hoạch. Nếu làm được như vậy, quy hoạch TP.HCM giai đoạn 2025 - 2050 sẽ không chỉ là quy hoạch không gian phát triển mà còn là quy hoạch khả năng chống chịu của đô thị. Đây cũng là cách để TP tránh được tình trạng đầu tư hôm nay nhưng để lại gánh nặng chi phí chống ngập, sửa chữa hạ tầng và thích ứng khí hậu cho các thế hệ sau", ông Thuận nhấn mạnh và cho rằng TP.HCM cần nhìn xa hơn mốc 2050. Bởi một quy hoạch có tầm nhìn phải đặt câu hỏi TP sẽ ở đâu và vận hành như thế nào trong điều kiện khí hậu của năm 2070, 2100. Nếu không tính đến sụt lún, nước biển dâng và các cực đoan khí hậu ngay từ bây giờ thì chúng ta đang quy hoạch cho hiện tại chứ chưa thực sự quy hoạch cho tương lai.
KTS Khương Văn Mười cũng đồng quan điểm: Cốt nền ở đây không đơn thuần là cao độ xây dựng. Đó phải là một hệ thống dữ liệu và tiêu chí để xác định sức chịu tải của từng khu vực trước các kịch bản khí hậu trong tương lai. Mỗi khu vực cần được đánh giá đồng thời về cao độ địa hình, tốc độ sụt lún, nguy cơ ngập, mực nước biển dâng, địa chất, mực nước ngầm, khả năng tiêu thoát nước, nguy cơ sạt lở và sức chịu tải của hệ thống hạ tầng. Từ hệ thống dữ liệu đó, quy hoạch mới có thể phân loại không gian phát triển theo mức độ rủi ro. Có khu vực có thể phát triển với mật độ cao; có khu vực chỉ được phát triển khi đáp ứng các điều kiện về cao độ, thoát nước và hạ tầng; cũng có những vùng cần hạn chế đô thị hóa hoặc dành cho không gian trữ nước, cây xanh và sinh thái.
Theo cách tiếp cận này, câu hỏi của quy hoạch không còn đơn giản là "đất này có thể xây dựng gì", mà phải là "đất này có thể an toàn để xây dựng gì trong 30, 50 hay 100 năm tới". Đây là vấn đề đặc biệt quan trọng với TP.HCM - một đô thị có tốc độ phát triển nhanh, nhiều khu vực thấp và chịu tác động. Nếu mỗi dự án tự nâng cao độ để bảo vệ mình, trong khi khu vực xung quanh không được tính toán đồng bộ, nước có thể bị đẩy từ nơi này sang nơi khác. Khi đó, một công trình có thể an toàn nhưng cả khu vực lại trở nên dễ tổn thương hơn.
Do đó, TP.HCM cần chuyển từ tư duy "chống ngập bằng mọi giá" sang tư duy "quy hoạch thích ứng với nước". Không gian đô thị cần dành đủ diện tích cho hồ điều hòa, hành lang thoát nước, công viên ngập nước, vùng trữ nước và các giải pháp hạ tầng xanh. Những khu vực có nguy cơ cao phải được kiểm soát mật độ và chức năng sử dụng đất ngay từ khâu lập quy hoạch.
Quan trọng hơn, cốt nền phải có tính động. Không thể sử dụng một bộ số liệu về cao độ hay ngập lụt rồi áp dụng cố định trong hàng chục năm. Dữ liệu về sụt lún, mực nước biển, lượng mưa cực đoan và biến động địa chất phải được cập nhật thường xuyên để quy hoạch có khả năng điều chỉnh theo thực tế.
Biến đổi khí hậu khiến thời tiết ngày càng cực đoan
Trận mưa lớn đến trên 250 mm trong 24 giờ vào cuối tháng 9 vừa qua ở TP.HCM là rất bất thường, trước đó, lượng mưa cao nhất khoảng 150 - 180 mm. Đáng nói, không chỉ TP.HCM mà năm nay mưa lớn xuất hiện khá thường xuyên ở nhiều khu vực trên cả nước. Thực tế trong những năm qua, thời tiết bất thường, cực đoan là hệ quả của tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu do trái đất ấm lên. Mặt khác, xu thế chung của triều cường luôn tăng, năm sau cao hơn năm trước và đã tăng đáng kể so với cách đây 10 năm. Nó là biểu hiện của tình trạng tan băng khiến mực nước biển dâng. Nếu nhìn vấn đề ở góc độ đó, sẽ thấy việc chống ngập cho TP.HCM phải tính đến xu hướng chung đó và các kịch bản mưa cực đoan kết hợp triều cường ngày càng cao. Các hình thế thời tiết cực đoan theo xu hướng không còn là chuyện hiếm.
Thạc sĩ Lê Thị Xuân Lan, chuyên gia khí tượng thủy văn