Bỏ qua điều hướng

Đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược: Từ mở rộng quy mô đến năng lực làm chủ

Đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược: Từ mở rộng quy mô đến năng lực làm chủ
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Sau một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW , quy mô đào tạo nhân lực STEM và công nghệ chiến lược  đã có những chuyển động đáng kể. Yêu cầu của giai đoạn tiếp theo là chuyển sự gia tăng về số lượng thành chất lượng người học, năng lực nghiên cứu và những kết quả công nghệ có thể kiểm chứng trong thực...

Tại buổi làm việc ngày 25/8/2026 về kết quả một năm triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm yêu cầu tạo ra một cuộc đổi mới thực chất từ bên trong ngành giáo dục. Giáo dục phải đi trước một bước trong chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo và các ngành chiến lược của đất nước.

Yêu cầu này có ý nghĩa trực tiếp đối với đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược. Số ngành được mở, số chương trình được xây dựng hay số sinh viên nhập học phản ánh quy mô triển khai. Năng lực công nghệ của quốc gia còn phụ thuộc vào chất lượng đội ngũ nghiên cứu, khả năng giải quyết các bài toán phức tạp và số kết quả được phát triển thành công nghệ, sản phẩm phục vụ thực tiễn.

Từ mở chương trình đến tạo năng lực làm chủ công nghệ

Đào tạo nhân lực cho các ngành STEM, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược đã có chuyển động đáng kể. Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học Nguyễn Tiến Thảo cho biết, hiện cả nước có 771.475 người học thuộc các lĩnh vực STEM, chiếm khoảng 29% quy mô giáo dục đại học. Trong đó, có 475.833 người học chính quy thuộc 15 nhóm ngành theo Nghị định số 179/2026/NĐ-CP. Mục tiêu đến năm 2030 là nâng tỷ lệ người học STEM lên 35%, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo Thông báo số 160-TB/VPTW, tỷ lệ sinh viên đại học nhập học các ngành STEM năm 2026 tăng 33,6%; khoảng 110.000 sinh viên theo học các ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược; 90 chương trình kỹ sư tài năng, thạc sĩ STEM được triển khai tại 23 cơ sở giáo dục đại học.

Cùng với việc mở rộng quy mô đào tạo trong nước, Chính phủ đã phê duyệt đề án cấp 1.500 học bổng toàn phần để đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược tại các trường đại học hàng đầu thế giới. Bên cạnh các chương trình kỹ sư tài năng, thạc sĩ STEM, một số mô hình hợp tác giữa cơ sở giáo dục và doanh nghiệp đang được triển khai theo hướng đưa chuyên gia, dự án và thời gian thực hành tại doanh nghiệp vào chương trình đào tạo.

Tuy nhiên, kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cũng chỉ rõ, chuyển biến về chất lượng giáo dục, người học và nguồn nhân lực chưa thật sự rõ nét. Khoảng cách giữa quy mô đào tạo và chất lượng đầu ra vì thế là vấn đề cần được giải quyết trong giai đoạn tiếp theo.

Đối với nhân lực công nghệ chiến lược, chất lượng cần được thể hiện qua khả năng tiếp cận một vấn đề mới, xây dựng phương án, tổ chức nghiên cứu, tiến hành thử nghiệm và phát triển giải pháp trong môi trường thực tế. Những năng lực này khó hình thành nếu quá trình đào tạo chủ yếu được đánh giá bằng số học phần hoàn thành hoặc khối lượng kiến thức được truyền đạt.

Yêu cầu càng trở nên cấp thiết khi trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, an ninh mạng, công nghệ lượng tử, UAV và nhiều lĩnh vực công nghệ mới đang thay đổi nhanh. Nhu cầu nhân lực chưa thể được mô tả đầy đủ bằng các vị trí việc làm đã hình thành ổn định. Nhiều công nghệ đang trong quá trình nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện tiêu chuẩn và xây dựng thị trường.

GS, TSKH Nguyễn Đình Đức, nguyên Chủ tịch Hội đồng Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội cho rằng, cần kết nối chặt chẽ hơn giữa dự báo nhu cầu nhân lực, tuyển sinh, đào tạo, nghiên cứu, doanh nghiệp và việc làm. Theo ông, hiệu quả của giáo dục đại học cần được nhìn qua chất lượng người học, tỷ lệ việc làm, năng suất nghiên cứu, sáng chế và công nghệ được doanh nghiệp sử dụng. Khi chuyển từ “đo công việc” sang “đo tác động”, cách tổ chức thực hiện cũng phải thay đổi.

Từ yêu cầu đó, chuẩn đầu ra cần được mô tả bằng năng lực giải quyết vấn đề và thực hiện công việc. Bên cạnh kiến thức chuyên môn, người học cần có kinh nghiệm nghiên cứu, làm việc với dữ liệu, thiết bị, hạ tầng và các yêu cầu kỹ thuật thực tế.

Nghiên cứu cũng cần trở thành một phần của quá trình đào tạo. Sinh viên phải có cơ hội tham gia nhóm nghiên cứu, làm việc cùng nhà khoa học và đóng góp vào công trình khoa học, tài sản trí tuệ, nguyên mẫu, giải pháp hoặc sản phẩm.

Doanh nghiệp cần tham gia từ khâu xác định nhu cầu, xây dựng bài toán, đóng góp chuyên gia đến tổ chức thực hành và đánh giá năng lực. Nếu doanh nghiệp chỉ xuất hiện ở giai đoạn thực tập hoặc tuyển dụng, phản hồi từ thực tiễn khó tác động kịp thời đến chương trình và phương pháp đào tạo. Nếu hoạt động nghiên cứu tách khỏi đào tạo, người học thiếu môi trường để hình thành năng lực tạo ra tri thức và công nghệ mới.

Kết nối nguồn lực phát triển nhân lực công nghệ chiến lược

Vì vậy, sự phối hợp giữa doanh nghiệp, trường đại học và viện nghiên cứu là cần thiết để đưa bài toán thực tiễn, năng lực nghiên cứu và nguồn lực công nghệ vào quá trình đào tạo. Tập đoàn FPT là một trong số các doanh nghiệp công nghệ đang tích cực triển khai theo định hướng này. Vừa qua, FPT, Trường Đại học FPT và Viện Quantum AI & Cyber Security vừa ký biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược về phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu, làm chủ và ứng dụng công nghệ chiến lược, với định hướng hợp tác đến năm 2041.

Trong mô hình này, doanh nghiệp đóng góp bài toán, chuyên gia, dữ liệu, hạ tầng và môi trường thử nghiệm. Viện nghiên cứu tổ chức các hướng nghiên cứu chuyên sâu và phát triển lực lượng khoa học. Trường đại học tổ chức đào tạo, chuẩn bị người học và tạo môi trường để sinh viên tham gia nghiên cứu, giải quyết bài toán, phát triển sản phẩm.

anh-2-3.jpg
FPT, Trường Đại học FPT và Viện Quantum AI & Cyber Security vừa ký biên bản ghi nhớ hợp tác chiến lược, hướng tới đào tạo tối thiểu 30.000 nhân lực, hình thành ít nhất 100 tiến sĩ; tạo ra 1.500 công trình khoa học và tài sản trí tuệ; phát triển ít nhất 150 sản phẩm được thương mại hóa.

Ba bên hướng tới đào tạo tối thiểu 30.000 nhân lực công nghệ chiến lược đến năm 2041. Mục tiêu về quy mô được đặt cùng các chỉ tiêu hình thành ít nhất 100 tiến sĩ; tạo ra 1.500 công trình khoa học và tài sản trí tuệ, trong đó có tối thiểu 300 bằng sáng chế hoặc tài sản trí tuệ có khả năng ứng dụng; phát triển ít nhất 150 sản phẩm được thương mại hóa và ba sản phẩm có thị trường quốc tế.

Sự phân công này tạo điều kiện để bài toán từ thực tiễn tác động trực tiếp vào đào tạo và nghiên cứu. Sinh viên có thể tiếp cận các vấn đề đang được doanh nghiệp và nhóm nghiên cứu giải quyết; kết quả nghiên cứu có thêm điều kiện thử nghiệm; doanh nghiệp có cơ sở tham gia đánh giá chất lượng nhân lực từ quá trình học tập và thực hiện dự án.

Hợp tác ba bên được xây dựng trên một số hoạt động FPT đã triển khai trong nghiên cứu, đào tạo và phát triển hạ tầng công nghệ. Ở lĩnh vực trí tuệ nhân tạo (AI), FPT phát triển chương trình AI Residency nhằm bồi dưỡng người trẻ theo hướng nghiên cứu chuyên sâu. Đến năm 2024, chương trình ghi nhận gần 90 công trình nghiên cứu, trong đó có 29 bài được chấp nhận tại các hội nghị AI xếp hạng A*.

Trong sáu năm hợp tác nghiên cứu giữa FPT và Viện Mila, các nhóm nghiên cứu đã công bố 162 công trình khoa học, đào tạo 80 nhà nghiên cứu trẻ và có năm bằng sáng chế được chấp nhận. Các kết quả này cho thấy một chương trình đào tạo tài năng trẻ có thể tạo ra lực lượng nghiên cứu và sản phẩm khoa học được đánh giá theo chuẩn quốc tế.

Ở khâu thúc đẩy sản phẩm, FPT cùng Liên minh AI Âu Lạc tổ chức Giải thưởng Âu Lạc Grand Prize nhằm tìm kiếm và tôn vinh sản phẩm AI do người Việt phát triển và làm chủ. Mùa đầu tiên thu hút hơn 410 lượt đăng ký thuộc 26 lĩnh vực, cho thấy lực lượng phát triển AI trong nước đã bước đầu tạo ra sản phẩm phục vụ nhiều bài toán kinh tế, xã hội.

Các cơ sở giáo dục đại học khác trên cả nước cũng đang triển khai nhiều mô hình nhằm kết nối nguồn lực, phát hiện và bồi dưỡng nhân tài STEM, đồng thời đáp ứng yêu cầu phát triển các lĩnh vực kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược.

Tại Hội thảo triển khai các chương trình và chính sách đào tạo nhân lực STEM do Đại học Bách khoa Hà Nội, Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức mới đây, GS, TS Lê Anh Tuấn, Giám đốc Đại học Bách khoa Hà Nội cho rằng, hệ sinh thái kết nối giữa đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp sẽ góp phần đưa các sản phẩm trí tuệ được ươm tạo ngay trong trường đại học và tạo ra giá trị cho xã hội.

GS,TS Mai Thanh Phong, Hiệu trưởng Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng cho biết ,nhà trường đang phát triển các chương trình đào tạo tài năng theo hướng gắn với nghiên cứu khoa học và doanh nghiệp.

Mô hình “Học kỳ doanh nghiệp” tạo điều kiện để sinh viên thực tập, làm việc dài hạn tại doanh nghiệp, qua đó nâng cao năng lực thực tiễn và khả năng thích ứng với thị trường lao động.

Trong khi đó, tại Đại học Phenikaa, sinh viên được tham gia nghiên cứu tại các phòng thí nghiệm, trải nghiệm tại doanh nghiệp và startup công nghệ ngay trong quá trình học tập.

PGS, TS Lê Anh Sơn, Phó Giám đốc Đại học Phenikaa cho rằng, việc kết nối đào tạo, nghiên cứu và khởi nghiệp tạo môi trường để người học phát triển năng lực đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ.

Một trong những yêu cầu được đặt ra là xây dựng nguồn nhân lực có nền tảng khoa học vững chắc, đủ khả năng tham gia nghiên cứu và phát triển các công nghệ mới.

PGS, TS Trần Mạnh Cường, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội cho biết, nhà trường kiên định triết lý đào tạo dựa trên nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trên nền tảng khoa học cơ bản.

Cùng với đó, nhà trường xây dựng hệ thống đào tạo tài năng xuyên suốt từ bậc trung học phổ thông chuyên đến đại học và sau đại học nhằm phát hiện, bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao.

Đầu ra là thước đo của quá trình thực hiện

img-0767.jpg
Bộ Giáo dục và Đào tạo ra mắt Nền tảng quản trị đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chiến lược quốc gia. Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Các mô hình này cho thấy phát triển nhân lực STEM và nhân lực cho các lĩnh vực công nghệ chiến lược không chỉ là câu chuyện của riêng giáo dục đại học. Quá trình này đòi hỏi sự kết nối liên tục từ khâu phát hiện, đào tạo, nghiên cứu đến thực hành, ứng dụng và sử dụng nhân lực.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã xây dựng nền tảng quản trị đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chiến lược quốc gia để xây dựng cơ sở dữ liệu về nguồn nhân lực chiến lược quốc gia, theo dõi quá trình học tập, việc làm và mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực của các lĩnh vực khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Qua đó, góp phần kết nối các bên liên quan, hỗ trợ hoạch định chính sách và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Có thể nói, những mục tiêu dài hạn về đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược cần được cụ thể hóa thành mốc thực hiện và chỉ số theo từng giai đoạn. Số người được đào tạo phải đi cùng năng lực chuyên môn; công trình khoa học cần được đánh giá về chất lượng và khả năng tiếp tục phát triển; tài sản trí tuệ cần có khả năng ứng dụng; sản phẩm cần được kiểm chứng bằng hiệu quả triển khai.

Năng lực làm chủ công nghệ phải gắn với khả năng tạo ra giá trị và trách nhiệm đối với xã hội. Khi người học có thể chứng minh năng lực qua nghiên cứu, tài sản trí tuệ, nguyên mẫu và sản phẩm, yêu cầu chuyển từ hoàn thiện chính sách sang tạo kết quả thực chất mới được thể hiện rõ trong giáo dục và quá trình phát triển công nghệ của đất nước.

LÂM THẢO

Sau một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW, quy mô đào tạo nhân lực STEM và các ngành công nghệ chiến lược tại Việt Nam đã ghi nhận những chuyển động đáng kể. Cả nước hiện có hơn 771.000 người học lĩnh vực STEM, chiếm khoảng 29% quy mô giáo dục đại học, đồng thời ghi nhận sự tăng trưởng 33,6% số lượng sinh viên đại học nhập học khối ngành này trong năm 2026. Bên cạnh đó, Chính phủ đã phê duyệt đề án cấp 1.500 học bổng toàn phần để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao tại các trường đại học hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, tại buổi làm việc ngày 25/8/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu tạo ra cuộc đổi mới thực chất từ bên trong ngành giáo dục nhằm đáp ứng các ngành công nghệ cốt lõi. Chuyển biến về chất lượng giáo dục, năng lực nghiên cứu và nguồn nhân lực vẫn chưa thật sự rõ nét so với tốc độ mở rộng quy mô. Khoảng cách giữa số lượng tuyển sinh và chất lượng đầu ra thực tế đang trở thành bài toán chiến lược cần tập trung giải quyết trong giai đoạn tiếp theo. Thực tế phát triển của các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, an ninh mạng hay công nghệ lượng tử đòi hỏi nhân lực phải có năng lực làm chủ và giải quyết bài toán phức tạp trong môi trường thực tế. Chất lượng đào tạo không thể chỉ dừng lại ở số lượng học phần hay khối lượng kiến thức truyền đạt thuần túy. Yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải chuyển hóa sự gia tăng về số lượng thành kết quả nghiên cứu công nghệ có thể kiểm chứng và ứng dụng hiệu quả vào thực tiễn.