Bỏ qua điều hướng

Doanh nghiệp Việt có bị tác động khi Fed tăng lãi suất?

Doanh nghiệp Việt có bị tác động khi Fed tăng lãi suất?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Lãi suất Mỹ tăng khiến đồng USD mạnh lên, trực tiếp tác động đến giá vốn của doanh nghiệp Việt. Trong khi nhà nhập khẩu lo tăng chi phí, khối xuất khẩu lại kỳ vọng hưởng lợi nhờ tỷ giá quy đổi.

Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vừa tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, lên 3,75-4%. Đây là lần tăng đầu tiên của cơ quan này trong 3 năm qua. 

Đối với doanh nghiệp Việt Nam, tác động dễ nhận thấy nhất của quyết định này không nằm ở việc lãi suất trong nước lập tức thay đổi, mà ở tỷ giá USD/VND. Sáng 17/9, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.632 đồng/USD, tăng 6 đồng so với hôm trước. Tại một số ngân hàng thương mại, giá bán USD phổ biến trên 26.100 đồng/USD.

Khi lãi suất Mỹ và lợi suất tài sản bằng USD tăng, đồng USD có xu hướng trở nên hấp dẫn hơn. Nếu USD mạnh lên so với VND, doanh nghiệp cần nhiều VND hơn để mua cùng một lượng ngoại tệ phục vụ nhập khẩu hoặc trả nợ.

Theo các doanh nghiệp, nếu Fed tiếp tục tăng lãi suất hoặc duy trì lãi suất cao lâu hơn dự kiến, khiến USD duy trì sức mạnh trong nhiều tháng, tác động có thể tích tụ trong chi phí nhập khẩu, nợ ngoại tệ và giá vốn của doanh nghiệp.

Nhập bằng USD, bán bằng VND chịu rủi ro lớn hơn

Trao đổi với Dân trí, ông Tạ Quang Huyên - Tổng giám đốc Công ty Hoàng Sơn 1 - cho biết tác động của tỷ giá tới doanh nghiệp phụ thuộc đáng kể vào cách doanh nghiệp sử dụng nguồn USD.

Theo ông, nhóm dễ chịu ảnh hưởng nhất là doanh nghiệp vay hoặc mua USD để nhập hàng hóa, máy móc hay nguyên vật liệu từ nước ngoài nhưng sản phẩm sau đó chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường Việt Nam.

Doanh nghiệp phải chi bằng USD nhưng doanh thu lại bằng VND. Nếu tỷ giá USD/VND tăng từ thời điểm ký hợp đồng tới thời điểm thanh toán, số tiền VND doanh nghiệp phải bỏ ra để mua USD sẽ tăng tương ứng.

Ví dụ, một doanh nghiệp phải thanh toán hợp đồng nhập khẩu 1 triệu USD. Nếu tỷ giá tăng thêm 2%, riêng biến động tỷ giá đã khiến chi phí quy đổi tăng tương đương khoảng 20.000 USD tính theo VND, trước khi tính đến biến động giá hàng hóa, vận tải hay lãi vay.

Doanh nghiệp khi đó đứng trước ba lựa chọn: chấp nhận biên lợi nhuận giảm, tăng giá bán cho người tiêu dùng hoặc tìm cách cắt giảm chi phí ở những khâu khác.

Với những ngành phụ thuộc nhiều vào máy móc, linh kiện, nguyên liệu hoặc nhiên liệu nhập khẩu, một giai đoạn USD mạnh kéo dài vì thế có thể tạo sức ép đáng kể lên chi phí sản xuất.

Doanh nghiệp Việt có bị tác động khi Fed tăng lãi suất? - 1

Doanh nghiệp chế biến, kinh doanh điều nhập khẩu nguyên liệu bằng đồng USD nhưng phần lớn sản phẩm dùng để xuất khẩu, cũng giúp thu lại đồng USD (Ảnh: Nam Bình).

Rủi ro còn lớn hơn với doanh nghiệp có dư nợ bằng USD nhưng nguồn thu bằng VND. Ngoài chi phí lãi vay, giá trị khoản nợ quy đổi sang VND cũng có thể tăng khi USD lên giá.

Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nhập khẩu nhiều đều chịu tác động giống nhau. Ngành điều là một ví dụ khi Việt Nam phải nhập lượng lớn điều thô từ nước ngoài để phục vụ chế biến. Năm 2025, các doanh nghiệp nhập gần 3 triệu tấn điều thô với trị giá khoảng 4,5 tỷ USD.

Trong 7 tháng đầu năm nay, theo số liệu Cục Hải quan, lượng điều thô nhập khẩu đã vượt 1,8 triệu tấn, trị giá hơn 3 tỷ USD. Nếu chỉ nhìn vào con số nhập khẩu, việc USD tăng giá có thể được xem là bất lợi lớn đối với ngành. Nhưng ông Tạ Quang Huyên cho rằng cần nhìn cả chiều còn lại của dòng tiền.

Phần lớn điều thô nhập về Việt Nam được chế biến rồi xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài. Doanh nghiệp vì vậy vừa phải chi USD để mua nguyên liệu, vừa thu USD khi bán sản phẩm.

Với Hoàng Sơn 1, doanh nghiệp đã nhập khoảng 120.000 tấn điều nguyên liệu trong năm nay và dự kiến chỉ nhập thêm khoảng 30.000 tấn từ nay đến cuối năm để đủ phục vụ sản xuất.

“Chúng tôi nhập nguyên liệu bằng USD nhưng sau khi chế biến cũng xuất khẩu và thu về USD. Nguồn ngoại tệ từ xuất khẩu có thể được sử dụng để thanh toán các khoản chi bằng ngoại tệ”, ông Huyên cho biết.

Cơ chế này trong tài chính thường được gọi là phòng vệ tự nhiên. Thay vì phải mua toàn bộ USD trên thị trường để thanh toán cho nhà cung cấp hoặc khoản vay, doanh nghiệp có thể dùng chính dòng USD thu được từ xuất khẩu.

Ví dụ, nếu một doanh nghiệp cần 10 triệu USD để nhập nguyên liệu nhưng đồng thời thu 8 triệu USD từ xuất khẩu, phần thực sự chịu rủi ro tỷ giá chỉ còn khoản chênh lệch khoảng 2 triệu USD, thay vì toàn bộ 10 triệu USD.

Do đó, doanh nghiệp có doanh thu và chi phí cùng bằng USD thường ít nhạy cảm hơn với biến động tỷ giá so với một doanh nghiệp nhập khẩu thuần.

Theo các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, nguyên tắc này cũng áp dụng khi doanh nghiệp vay USD để mua máy móc, thiết bị. Nếu doanh nghiệp có nguồn thu ngoại tệ ổn định từ xuất khẩu để trả nợ, tác động của tỷ giá được hạn chế đáng kể.

Doanh nghiệp xuất khẩu có hưởng lợi khi USD tăng?

Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp chủ yếu xuất khẩu và thu USD có thể hưởng lợi khi đồng bạc xanh mạnh lên, ít nhất về mặt quy đổi. Nếu doanh nghiệp bán được 1 triệu USD hàng hóa, cùng một lượng doanh thu ngoại tệ sẽ đổi được nhiều VND hơn khi USD tăng giá. Dù vậy, đây cũng không phải khoản lợi ích chắc chắn.

Ông Nguyễn Đình Tùng - Tổng giám đốc Vina T&T Group - cho biết doanh nghiệp chưa ghi nhận tác động rõ rệt ngay sau quyết định tăng lãi suất của Fed. Theo ông, đây là biến động mang tính vĩ mô và cần thêm thời gian để đánh giá cụ thể đối với hoạt động xuất nhập khẩu.

“Nếu tỷ giá có diễn biến thuận lợi, doanh nghiệp xuất khẩu có thể có lợi hơn ở chỗ bán hàng và thu về USD. Tuy vậy, kết quả kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu nông sản còn phụ thuộc vào thị trường, nguồn nguyên liệu, giá bán và nhiều yếu tố khác”, ông Tùng phân tích.

Điều này cho thấy một đồng USD mạnh không tự động biến thành lợi nhuận. Nếu giá nguyên liệu trong nước tăng, chi phí logistics cao hơn hoặc khách hàng nước ngoài ép giá, lợi ích từ tỷ giá có thể bị triệt tiêu.

Doanh nghiệp Việt có bị tác động khi Fed tăng lãi suất? - 2

Đóng gói bưởi xuất khẩu sang thị trường Mỹ (Ảnh: Nam Bình).

Với doanh nghiệp xuất khẩu sang Mỹ, còn một yếu tố quan trọng khác là sức mua của người tiêu dùng Mỹ.

Fed tăng lãi suất nhằm làm giảm nhu cầu trong nền kinh tế để kiểm soát lạm phát. Nếu chính sách tiền tệ thắt chặt khiến người tiêu dùng Mỹ giảm chi tiêu, doanh nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang thị trường này có thể chịu tác động theo hướng khác: đồng USD mạnh giúp tăng giá trị doanh thu quy đổi, nhưng nhu cầu đối với hàng hóa lại yếu đi.

Theo ông Tùng, với doanh nghiệp nông sản, chính sách tiền tệ của Mỹ chỉ là một trong nhiều yếu tố cần theo dõi. Điều kiện thương mại, yêu cầu thị trường, nguồn cung, giá bán và sức mua của người tiêu dùng mới tác động trực tiếp hơn tới hoạt động kinh doanh.

Ba nhóm doanh nghiệp, ba mức độ ảnh hưởng

Theo cơ chế tác động từ việc tăng lãi suất của Fed có thể chia doanh nghiệp xuất nhập khẩu thành ba nhóm chính.

Nhóm đầu tiên là doanh nghiệp nhập khẩu thuần: mua hàng, nguyên liệu hoặc máy móc bằng USD nhưng chủ yếu bán sản phẩm và thu VND. Đây là nhóm nhạy cảm nhất nếu tỷ giá tăng. Chi phí nhập khẩu và nghĩa vụ nợ ngoại tệ có thể tăng trong khi nguồn thu không tự điều chỉnh theo tỷ giá.

Nhóm thứ hai là doanh nghiệp vừa nhập khẩu vừa xuất khẩu, như ngành điều. Nhóm này có một lớp bảo vệ tự nhiên khi dòng thu và dòng chi cùng bằng USD. Mức độ rủi ro phụ thuộc vào chênh lệch giữa lượng USD phải trả và lượng USD thu về, cũng như thời điểm phát sinh hai dòng tiền.

Nhóm cuối cùng là doanh nghiệp xuất khẩu thuần hoặc có tỷ trọng xuất khẩu cao. Họ có thể hưởng lợi về mặt quy đổi khi USD mạnh, nhưng vẫn chịu tác động từ nhu cầu tại thị trường nhập khẩu, giá nguyên liệu, chi phí logistics và khả năng cạnh tranh.

Quyết định nâng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, lên 3,75 đến 4%, đánh dấu lần tăng đầu tiên của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ trong 3 năm qua và có thể truyền dẫn tới doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu qua kênh tỷ giá. Sáng 17/9, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.632 đồng/USD, tăng 6 đồng so với hôm trước, trong khi giá bán USD tại một số ngân hàng thương mại phổ biến trên 26.100 đồng/USD. Khi lãi suất Mỹ và lợi suất tài sản bằng USD tăng, đồng bạc xanh trở nên hấp dẫn hơn, khiến doanh nghiệp cần nhiều VND hơn để mua ngoại tệ phục vụ nhập khẩu hoặc trả nợ. Theo ông Tạ Quang Huyên, Tổng giám đốc Công ty Hoàng Sơn 1, nhóm chịu sức ép lớn nhất là doanh nghiệp nhập hàng hóa, máy móc, nguyên vật liệu bằng USD nhưng chủ yếu bán sản phẩm trong nước và thu doanh thu bằng VND. Với hợp đồng nhập khẩu trị giá 1 triệu USD, mức tăng tỷ giá 2% có thể làm chi phí quy đổi tăng tương đương khoảng 20.000 USD tính theo VND, chưa bao gồm biến động giá hàng hóa, vận tải và lãi vay. Doanh nghiệp khi đó phải chấp nhận giảm biên lợi nhuận, tăng giá bán hoặc cắt giảm chi phí, còn những đơn vị có dư nợ USD nhưng nguồn thu VND phải đối mặt thêm nguy cơ giá trị khoản nợ quy đổi tăng lên. Tuy nhiên, quy mô nhập khẩu lớn không đồng nghĩa mọi ngành đều chịu tác động bất lợi như nhau, bởi khả năng tạo nguồn thu USD có thể hình thành cơ chế bù trừ tự nhiên. Ngành điều là trường hợp điển hình khi năm 2025 nhập gần 3 triệu tấn điều thô, trị giá khoảng 4,5 tỷ USD, còn 7 tháng đầu năm nay đã nhập hơn 1,8 triệu tấn, trị giá trên 3 tỷ USD, nhưng phần lớn sản phẩm chế biến được xuất khẩu và thu về USD.