Bỏ qua điều hướng

Đổi mới sáng tạo để nâng tầm thương hiệu Việt

Đổi mới sáng tạo để nâng tầm thương hiệu Việt
Nguồn ảnh: Nhân Dân

Đổi mới sáng tạo, năng lực công nghệ và giá trị thương hiệu có mối quan hệ hữu cơ, tạo thành nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh. Đây là nội dung được các chuyên gia nhấn mạnh tại Diễn đàn Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh 2026, tổ chức ngày 23/9 tại Hà Nội. Đẩy nhanh hoạt động sả...

Diễn đàn do Viện Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh tổ chức, quy tụ nhiều chuyên gia, nhà khoa học và lãnh đạo doanh nghiệp đầu ngành. Các tham luận tập trung làm rõ mối liên kết giữa đổi mới sáng tạo, năng lực công nghệ, giá trị thương hiệu và năng lực cạnh tranh quốc gia, trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Theo TS Trần Lê Hồng, Phó Cục trưởng Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ), bốn yếu tố gồm đổi mới sáng tạo, năng lực công nghệ, giá trị thương hiệu và năng lực cạnh tranh không tồn tại độc lập mà vận hành như một hệ thống có quan hệ hữu cơ, tác động qua lại. Nếu thiếu một trong các yếu tố này, hệ thống khó chuyển hóa thành giá trị thực chất và dòng tiền cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế. Đặc biệt, đổi mới sáng tạo phải được duy trì liên tục và xuất phát từ năng lực nội bộ của doanh nghiệp, thay vì thực hiện theo từng đợt hay mang tính nhất thời. Quá trình đổi mới thường xuyên giúp doanh nghiệp tích lũy, làm chủ năng lực công nghệ, nhất là các công nghệ lõi và công nghệ chiến lược.

ndo_br_ts-tran-le-hong.jpg
TS Trần Lê Hồng, Phó Cục trưởng Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ).

Từ góc độ thương hiệu, năng lực công nghệ tạo ra chất lượng sản phẩm ổn định và sự khác biệt. Chính sự khác biệt về công nghệ có thể trở thành nền tảng định hình thương hiệu có giá trị cao. Những tương quan giữa công nghệ và thương hiệu được đưa ra tại diễn đàn cho thấy, khi doanh nghiệp đồng thời sở hữu công nghệ mạnh và thương hiệu mạnh, doanh nghiệp có thể tạo vị thế dẫn đầu, đạt biên lợi nhuận cao và có thêm nguồn lực để tái đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Ngược lại, nếu công nghệ và thương hiệu đều yếu, doanh nghiệp dễ rơi vào tình trạng gia công với biên lợi nhuận thấp, thiếu nguồn lực để tái đầu tư.

Nhìn từ chuỗi giá trị toàn cầu, khâu sở hữu công nghệ, nghiên cứu, thiết kế và thương hiệu thường tạo ra giá trị gia tăng lớn. Trong chuỗi giá trị cà-phê, các quốc gia xuất khẩu cà-phê thô chỉ giữ lại khoảng 20% giá trị, trong khi chế biến, rang xay và phân phối bán lẻ sở hữu công nghệ và thương hiệu nắm giữ tới 55% giá trị còn lại. Đối với ngành điện tử, R&D, thiết kế và sở hữu trí tuệ cũng là những khâu mang lại giá trị gia tăng cao. Từ thực tế đó, vấn đề đặt ra với Việt Nam không chỉ là gia tăng quy mô xuất khẩu, mà quan trọng hơn là nâng cao năng lực làm chủ công nghệ và tạo dựng những thương hiệu có giá trị cao.

Theo TS Trần Lê Hồng, Việt Nam đạt vị trí thứ 44 thế giới về Chỉ số Đổi mới sáng tạo (GII), trong khi thương hiệu quốc gia được định giá hơn 500 tỷ USD. Tuy nhiên, xuất khẩu công nghệ cao của Việt Nam chủ yếu vẫn nằm ở khâu lắp ráp của các doanh nghiệp FDI, trong khi năng lực thiết kế trong nước còn hạn chế. Tổng giá trị 100 thương hiệu doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam cũng chưa bằng một nửa thương hiệu Samsung.

Để tạo chuyển biến, tham luận đề xuất nâng chi tiêu thực chất cho R&D lên mức 2-3% GDP; thay đổi chiến lược thu hút FDI theo hướng chú trọng chuyển giao công nghệ và xây dựng năng lực hấp thụ công nghệ cho doanh nghiệp trong nước. Cùng với đó, sở hữu trí tuệ cần được coi là một dạng hạ tầng phát triển kinh tế, thay vì chỉ là thủ tục hành chính xác lập quyền; đồng thời tập trung xây dựng thương hiệu quốc tế cho các sản phẩm nông sản chủ lực.

ba-ha-kieu-oanh.jpg
Bà Hà Kiều Oanh, Phó Trưởng phòng Phát triển năng lực Xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Công thương).

Ở góc độ xây dựng thương hiệu quốc gia, bà Hà Kiều Oanh, Phó Trưởng phòng Phát triển năng lực Xúc tiến thương mại, Cục Xúc tiến Thương mại (Bộ Công thương) cho rằng, thương hiệu không thể tách rời năng lực quản trị, trình độ công nghệ, chất lượng sản phẩm và khả năng ứng biến trước thị trường. Một thương hiệu mạnh phải bắt nguồn từ năng lực thực chất và chuyển đổi số. Chương trình Thương hiệu Quốc gia Việt Nam do Bộ Công thương chủ trì từ năm 2003, đến kỳ xét chọn thứ 10 năm 2026 đã công nhận 499 sản phẩm của 227 doanh nghiệp. Bộ tiêu chí cốt lõi mới tập trung vào ba trụ cột: Chất lượng, Đổi mới sáng tạo và Năng lực tiên phong. Theo định hướng được nêu tại diễn đàn, thương hiệu quốc gia đóng vai trò bệ phóng, nâng đỡ chứ không thay thế thương hiệu của từng doanh nghiệp.

Trong khi đó, từ góc nhìn thị trường, người tiêu dùng cũng đang thay đổi cách lựa chọn sản phẩm. Bà Đặng Thúy Hà, Giám đốc kinh doanh Công ty Nghiên cứu thị trường NielsenIQ Việt Nam cho biết nhóm khách hàng thận trọng trong chi tiêu chiếm tới 43% song tỷ lệ lựa chọn sản phẩm có giá thấp nhất đã giảm xuống còn 28%. Người tiêu dùng sẵn sàng trả chi phí cao hơn cho những sản phẩm có giá trị thực chất, tính đổi mới sáng tạo và đáp ứng đúng nhu cầu. Điều này đặt ra yêu cầu doanh nghiệp chuyển từ cạnh tranh bằng giá sang tạo ra nhu cầu mới, thấu hiểu khách hàng và tối ưu chiến lược định giá.

o-doan-duc-thuan.jpg
TS Đoàn Đức Thuận, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh.

Không chỉ làm chủ công nghệ và thương hiệu, doanh nghiệp còn cần nâng cao năng lực nhìn trước những thay đổi có thể tác động đến thị trường. TS Đoàn Đức Thuận, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh, nhấn mạnh vai trò của xu hướng lớn và dự báo chiến lược trong kiến tạo tương lai. Theo đó, trong bối cảnh thế giới đối mặt nhiều biến động về địa chính trị, môi trường, lạm phát và sự bùng nổ của AI, các tổ chức cần kết hợp khả năng “nhìn xa” trong 10-20 năm với khả năng hành động nhanh để nắm bắt cơ hội.

Khác với dự báo tuyến tính dựa chủ yếu vào dữ liệu quá khứ, dự báo chiến lược bắt đầu từ những kịch bản tương lai có thể xảy ra, sau đó chiếu ngược trở lại hiện tại để chuẩn bị phương án ứng phó và định hình lợi thế. Đây được xem là công cụ giúp doanh nghiệp chủ động hơn trước những thay đổi thay vì chỉ phản ứng khi biến động đã xảy ra. Từ những góc nhìn được chia sẻ tại diễn đàn, nâng cao năng lực cạnh tranh của thương hiệu Việt không chỉ là câu chuyện truyền thông hay nhận diện thương hiệu. Nền tảng sâu xa nằm ở năng lực đổi mới sáng tạo, làm chủ công nghệ, sở hữu trí tuệ, đầu tư cho R&D và khả năng chủ động trước những xu hướng lớn. Đây cũng là con đường để doanh nghiệp Việt từng bước thoát khỏi mô hình gia công giá trị thấp, tạo dựng giá trị thực chất và hướng tới phát triển bền vững trong dài hạn.

KIM DUNG

Tại Diễn đàn Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh 2026 diễn ra ngày 23/9 tại Hà Nội, các chuyên gia hàng đầu đã tập trung phân tích mối quan hệ hữu cơ giữa đổi mới sáng tạo, năng lực công nghệ và giá trị thương hiệu. Sự kết hợp đồng bộ giữa các yếu tố này được xác định là nền tảng cốt lõi để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia cũng như giá trị doanh nghiệp. Thiếu hụt bất kỳ khâu nào cũng sẽ làm giảm khả năng chuyển hóa trí tuệ thành giá trị kinh tế thực chất và dòng tiền cho nền kinh tế. Thực tế từ chuỗi giá trị toàn cầu cho thấy các khâu làm chủ công nghệ, R&D, thiết kế và sở hữu thương hiệu luôn chiếm tỷ trọng giá trị gia tăng cao nhất. Đơn cử như trong ngành cà phê, các nước xuất khẩu thô chỉ giữ lại khoảng 20% giá trị, trong khi khâu chế biến và phân phối gắn liền với thương hiệu nắm giữ tới 55%. Dù Việt Nam đã vươn lên vị trí 44 thế giới về Chỉ số Đổi mới sáng tạo (GII) và thương hiệu quốc gia vượt mốc 500 tỷ USD, hoạt động xuất khẩu công nghệ cao vẫn phụ thuộc lớn vào khâu lắp ráp của khối FDI. Nhằm vượt qua bẫy gia công biên lợi nhuận thấp, doanh nghiệp Việt Nam cần duy trì hoạt động đổi mới sáng tạo liên tục từ nội lực để làm chủ các công nghệ lõi. Các tham luận tại diễn đàn đề xuất giải pháp chiến lược là nâng chi tiêu thực chất cho R&D lên mức 2-3% GDP, đồng thời đổi mới phương thức thu hút FDI nhằm chú trọng chuyển giao công nghệ. Đây là con số quan trọng để gia tăng năng lực hấp thụ công nghệ, giúp doanh nghiệp nội địa tự tin xây dựng những thương hiệu có tầm vóc quốc tế.