Hoàn thiện hành lang pháp lý, xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật ngay tại cơ sở
Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2026 được Quốc hội khóa XVI thông qua tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/3/2027. Đây là dấu mốc quan trọng trong hoàn thiện thể chế về hòa giải ở cơ sở, tạo cơ sở pháp lý để hoạt động này tiếp tục phát huy vai trò trong giải quyết mâu thuẫn, tranh chấp từ sớm, từ cơ sở, góp phần củng cố đoàn kết cộng đồng, phòng ngừa vi phạm pháp luật và xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật ngay tại cơ sở.
Để Luật được triển khai kịp thời, toàn diện, thống nhất và hiệu quả, ngày 14/9, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu ký Quyết định số 1774/QĐ-TTg ban hành Kế hoạch triển khai thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở. Để bảo đảm cơ sở pháp lý cho việc triển khai Luật, Kế hoạch đặt ra yêu cầu sớm hoàn thiện các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.
Cụ thể, giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp Văn phòng Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và cơ quan, tổ chức có liên quan xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật, hoàn thành trong tháng 12/2026.
Theo Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc, để những quy định tiến bộ của Luật Hòa giải ở cơ sở sớm đi vào cuộc sống, việc ban hành Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật là nhiệm vụ hết sức quan trọng và cấp thiết.
Theo đó, yêu cầu đặt ra đối với Nghị định là phải bám sát Luật, quy định cụ thể, rõ ràng, khả thi, dễ thực hiện, phù hợp với điều kiện thực tế của cơ sở, đồng thời tránh hành chính hóa quá mức hoạt động hòa giải ở cơ sở - vốn là hình thức tự quản, tự nguyện của cộng đồng dân cư.
Làm rõ phạm vi, trách nhiệm, phát huy vai trò hòa giải viên
Tại Hội thảo góp ý dự thảo Nghị định quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hòa giải ở cơ sở, sáng 16/9, bà Ngô Quỳnh Hoa, Phó Cục trưởng Cục Phổ biến, giáo dục pháp luật và Trợ giúp pháp lý, Bộ Tư pháp, cho biết, dự thảo Nghị định được kết cấu gồm 6 chương, 35 điều (tăng 15 điều so với Nghị định số 15/2014/NĐ-CP). Dự thảo Nghị định tập trung cụ thể hóa nhiều nội dung quan trọng của pháp luật về hòa giải ở cơ sở, trong đó tiếp tục đề cao nguyên tắc tự nguyện của các bên; hoàn thiện các quy định về bầu, công nhận Tổ trưởng tổ hòa giải, thôi làm hòa giải viên, Tổ trưởng tổ hòa giải; bổ sung quy định về người được mời tham gia hòa giải và người phiên dịch; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin; bảo đảm kinh phí và làm rõ trách nhiệm quản lý nhà nước đối với công tác hòa giải ở cơ sở…
Đáng chú ý, lần đầu tiên Luật quy định rõ cơ chế huy động, phát huy vai trò và trí tuệ của những người được mời tham gia trực tiếp vào quá trình hòa giải nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết các mâu thuẫn phức tạp ở cơ sở. Do đó, dự thảo Nghị định cần xác định rõ phạm vi, trình tự, thủ tục mời, sự thỏa thuận của các bên cũng như trách nhiệm phối hợp của cơ quan, tổ chức có liên quan trong việc cử người tham gia quá trình hòa giải.
Một điểm mới khác là đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hòa giải ở cơ sở, từ bầu hòa giải viên, tổ chức hòa giải đến khả năng hòa giải trực tuyến. Đi cùng với đó phải có các quy định phù hợp nhằm bảo đảm an toàn, bảo mật thông tin và quyền riêng tư của các bên tham gia.
Theo bà Hoa, một trong những nội dung cần được làm rõ là phạm vi hòa giải ở cơ sở. Đây là vấn đề có tính chất nền tảng, bởi hòa giải viên không phải thẩm phán hay luật sư và phần lớn không được đào tạo chuyên sâu về pháp luật. Hoạt động hòa giải dựa trên sự kết hợp giữa quy định pháp luật với các yếu tố văn hóa, đạo đức, tình và lý. Vì vậy, quy định phải đủ rõ để hòa giải viên có thể nhận diện được vụ việc nào thuộc phạm vi hòa giải, vụ việc nào phải chuyển cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
Bảo đảm quy định vừa tuân thủ pháp luật, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở cơ sở
Tại hội thảo, cho biết, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Hồ Hải, Ủy viên là đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội nhận định, Luật đã đặt ra nhiều yêu cầu mới như hòa giải trực tuyến, biên bản hòa giải điện tử. Tuy nhiên, khi cụ thể hóa tại Nghị định, cần rà soát kỹ trình tự, thủ tục và điều kiện thực hiện tại thôn, tổ dân phố, khu dân cư, bảo đảm quy định vừa tuân thủ pháp luật, vừa phù hợp với điều kiện thực tế ở cơ sở.
Đối với phạm vi hòa giải ở cơ sở, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Trương Hồ Hải cho rằng đây là vấn đề cần được xác định rõ, bởi nếu ranh giới và thẩm quyền không cụ thể thì chính quá trình thực hiện hòa giải có thể phát sinh những vướng mắc mới.
Liên quan Điều 3 của dự thảo Nghị định, ông Hải đề nghị nghiên cứu quy định theo phương pháp loại trừ, làm rõ những trường hợp không được hòa giải hoặc không thuộc phạm vi hòa giải.
Ông Hải phân tích, nếu liệt kê tất cả những trường hợp được hòa giải, quy định có nguy cơ bỏ sót bởi các quan hệ dân sự trong đời sống rất đa dạng, thường xuyên vận động và phát sinh những tình huống mới.
Từ thực tiễn công tác tại địa bàn, ông Nghiêm Xuân Giang, đại diện Công an phường Ba Đình (thành phố Hà Nội), cho rằng hòa giải viên cần phát hiện sớm, tiếp cận và giải quyết mâu thuẫn ngay từ cơ sở. Khi tiếp nhận vụ việc, hòa giải viên phải nhận diện rõ tính chất, mức độ mâu thuẫn; nếu thuộc phạm vi hòa giải thì chủ động vận động, thuyết phục, phân tích quy định pháp luật để các bên tìm được tiếng nói chung. Trường hợp vụ việc vượt quá phạm vi hòa giải, cần kịp thời thông tin, chuyển đến cơ quan có thẩm quyền xử lý.
Theo ông Giang, các quy định của Nghị định cần rõ ràng, cụ thể, dễ nhận biết để hòa giải viên xác định đúng giới hạn trách nhiệm. Phân định rõ ranh giới này vừa giúp tránh can thiệp vào những vụ việc thuộc thẩm quyền của cơ quan chức năng, vừa phát huy hiệu quả hòa giải đối với những mâu thuẫn có thể giải quyết ngay tại cộng đồng.
Việc hoàn thiện các quy định hướng dẫn theo hướng rõ phạm vi, rõ trách nhiệm, phù hợp thực tiễn sẽ tạo nền tảng để Luật Hòa giải ở cơ sở được triển khai hiệu quả, đưa pháp luật đến gần người dân, giải quyết mâu thuẫn từ sớm, từ cơ sở và góp phần xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật trong cộng đồng.
VY ANH