Bỏ qua điều hướng
•

Em dâu làm thủ tục thừa kế gần 1000m2 đất thờ cúng, chị chồng phản đối

Em dâu làm thủ tục thừa kế gần 1000m2 đất thờ cúng, chị chồng phản đối
Nguồn ảnh: VietnamNet

Gần 1.000m2 đất được gia đình dành làm nơi thờ cúng tổ tiên. Sau khi con trai út qua đời, vợ ông làm thủ tục thừa kế khiến chị chồng phản đối. Vụ tranh chấp được xem xét trên cơ sở thỏa thuận phân chia tài sản và di chúc của người mẹ.

Theo trình bày của bà T. (ngụ tỉnh Tây Ninh), năm 1990, cha bà qua đời, không để lại di chúc. Đến năm 1993, mẹ và các con họp gia đình, lập văn bản phân chia tài sản.

Theo thỏa thuận, khu đất ban đầu rộng khoảng 1.800m2 được giữ lại làm nơi thờ cúng tổ tiên và giao cho người con út là ông L. quản lý.

Ngày 1/12/1994, mẹ bà T. lập di chúc liên quan đến nhà đất, trong đó giao ông L. quản lý, sử dụng tài sản để thờ cúng tổ tiên. Sau đó, căn nhà gỗ cũ được tháo dỡ để xây dựng nhà cấp 4.

Sau khi một phần đất được chuyển nhượng và một phần bị Nhà nước thu hồi làm đường, diện tích còn lại theo đo đạc thực tế là 981,7m2. Năm 1998, ông L. được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với diện tích ghi trên giấy là 948m2.

W-Long An   nguyễn huế 24.jpg
Vụ tranh chấp gần 1.000m2 đất được gia đình dành làm nơi thờ cúng tổ tiên sau khi người con út qua đời, khiến chị chồng và em dâu bất đồng về quyền thừa kế. Ảnh minh họa: Nguyễn Huế

Năm 1999, mẹ bà T. qua đời. Ông L. cùng vợ tiếp tục quản lý nhà đất và thực hiện việc thờ cúng. Đến năm 2018, ông L. qua đời, không để lại di chúc. Vợ ông sau đó làm thủ tục chuyển tên quyền sử dụng đất sang con trai, nhưng bị bà T. và các thành viên khác trong gia đình phản đối, dẫn đến tranh chấp.

Năm 2020, bà T. khởi kiện, yêu cầu công nhận diện tích đất là tài sản dùng vào việc thờ cúng và giao cho các đồng thừa kế quản lý.

Ngược lại, vợ ông L. cho rằng di chúc của mẹ chồng đã để lại nhà đất cho chồng bà. Con trai bà cũng đồng tình với quan điểm này.

Tòa xác định đất là di sản dùng vào việc thờ cúng

Xét xử sơ thẩm, TAND tỉnh Tây Ninh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T. Không đồng ý với phán quyết, bà T. cùng bốn người thân kháng cáo.

Tại phiên phúc thẩm, TAND cấp cao tại TP.HCM xem xét văn bản phân chia tài sản năm 1993 và di chúc của người mẹ lập năm 1994.

Theo HĐXX, văn bản năm 1993 thể hiện các thành viên trong gia đình đã thống nhất giữ lại nhà đất làm nơi thờ cúng ông bà, cha mẹ và giao người con út quản lý. Thỏa thuận này phù hợp với quy định tại Điều 21 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990 về di sản dùng vào việc thờ cúng.

Đối với di chúc năm 1994, tòa cho rằng nội dung văn bản vẫn thể hiện mục đích giao ông L. quản lý, sử dụng tài sản để thờ cúng tổ tiên, phù hợp với thỏa thuận trước đó của gia đình, chứ không phải chuyển quyền sử dụng đất thành tài sản riêng của ông.

Vì vậy, nhận định của tòa sơ thẩm rằng nhà đất là tài sản riêng hợp pháp của ông L., để vợ và các con toàn quyền sử dụng sau khi ông qua đời, không phù hợp với ý chí của người để lại tài sản và chứng cứ trong hồ sơ.

Tòa phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, công nhận diện tích 981,7m2 là di sản dùng vào việc thờ cúng, giao cho năm đồng thừa kế còn sống quản lý. 

HĐXX cũng kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho ông L. năm 1998 để cấp lại cho năm người theo quy định. Đối với căn nhà cấp 4 trên đất, tòa chưa xem xét do các bên chưa yêu cầu giải quyết. 

(Theo Bản án số 237/2023/DS-PT ngày 26/4/2023 của TAND cấp cao tại TPHCM)


 

Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng diện tích 981,7m2 đất tại Tây Ninh phản ánh xung đột pháp lý điển hình giữa quyền quản lý di sản thờ cúng và quyền sở hữu cá nhân. Vụ việc khởi nguồn sau khi ông L. qua đời vào năm 2018 mà không để lại di chúc, dẫn tới việc vợ ông làm thủ tục chuyển quyền sử dụng đất sang tên con trai. Nhận thấy hành vi này xâm phạm thỏa thuận dòng họ, bà T. cùng các đồng thừa kế khác đã khởi kiện để yêu cầu xác lập lại bản chất tài sản. Hồ sơ vụ án thể hiện nguồn gốc khu đất bắt đầu từ văn bản phân chia tài sản gia đình lập năm 1993 và di chúc năm 1994 của người mẹ. Cả hai tài liệu này đều thống nhất giao ông L. quản lý, sử dụng nhà đất nhằm mục đích thờ cúng tổ tiên chứ không nhằm chuyển dịch quyền sở hữu riêng. Mặc dù ông L. đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1998 với diện tích ghi nhận 948m2, việc cấp giấy này không làm thay đổi bản chất pháp lý của tài sản dùng vào việc thờ cúng theo Điều 21 Pháp lệnh Thừa kế năm 1990. Tại bản án phúc thẩm số 237/2023/DS-PT, TAND cấp cao tại TP.HCM đã chấp nhận kháng cáo của bà T., sửa bản án sơ thẩm của TAND tỉnh Tây Ninh. Hội đồng xét xử chính thức công nhận toàn bộ diện tích đo đạc thực tế 981,7m2 là di sản dùng vào việc thờ cúng và giao cho 5 đồng thừa kế còn sống đồng quản lý. Đồng thời, tòa án kiến nghị cơ quan có thẩm quyền thu hồi giấy chứng nhận đã cấp sai đối tượng cho ông L. nhằm cấp lại đúng quy định pháp luật.
amung