Bỏ qua điều hướng

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Người trong cuộc nói gì?

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Người trong cuộc nói gì?
Nguồn ảnh: Dân Trí

(Dân trí) - Những khó khăn về dòng tiền, vốn, sức mua, thủ tục hành chính đang “bào mòn” sức khỏe của doanh nghiệp. Lãnh đạo HUBA đề xuất loạt giải pháp tháo gỡ để doanh nghiệp lớn nhanh, mạnh và bền vững.

Phóng viên Dân trí trao đổi với ông Nguyễn Quốc Kỳ, Phó chủ tịch lâm thời Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM (HUBA), Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Tập đoàn Vietravel, quanh bức tranh gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường 7 tháng đầu năm.

Từ thực tế hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp TPHCM, tình trạng doanh nghiệp gia nhập và rời khỏi thị trường trong 7 tháng đầu năm như con số công bố, có đáng lo không? 

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Người trong cuộc nói gì? - 1

Ông Nguyễn Quốc Kỳ (Ảnh: LG)

- Theo tôi, đây là những con số đáng quan tâm và phải được phân tích nghiêm túc, nhưng không nên nhìn nhận một cách đơn giản rằng toàn bộ số doanh nghiệp rời thị trường đều do kinh tế suy giảm hoặc môi trường kinh doanh xấu đi.

Trong 7 tháng đầu năm, TPHCM có 34.096 doanh nghiệp thành lập mới, tăng hơn 22% so với cùng kỳ, phản ánh tinh thần kinh doanh và niềm tin vào cơ hội phát triển của thành phố vẫn còn khá mạnh. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, có 7.483 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể và 31.321 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động. Như vậy, số doanh nghiệp rời thị trường vẫn cao hơn số doanh nghiệp gia nhập.

Điều cần lưu ý không chỉ là tỷ lệ giải thể tăng 158%, mà còn là số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động giảm, trong khi tổng số doanh nghiệp tạm ngừng và giải thể đã lên gần 39.000. Đây là dấu hiệu cho thấy sức chống chịu của một bộ phận doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, đang suy giảm.

Nếu phân tách con số doanh nghiệp tạm ngừng và giải thể thời gian qua, có những nguyên nhân hay nhóm doanh nghiệp cụ thể nào?

- Cần bóc tách thành ít nhất ba nhóm. Nhóm thứ nhất là những doanh nghiệp hoặc pháp nhân đã ngừng hoạt động từ lâu, nay hoàn tất thủ tục giải thể do cơ quan quản lý đẩy nhanh việc rà soát, làm sạch dữ liệu. Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp chủ động tái cấu trúc, đóng một pháp nhân, thu hẹp một ngành nghề hoặc chuyển đổi mô hình kinh doanh. Nhóm thứ ba, cũng là nhóm cần đặc biệt quan tâm, là những doanh nghiệp thực sự mất khả năng duy trì hoạt động do thiếu đơn hàng, thiếu dòng tiền, chi phí tăng cao hoặc không còn khả năng tiếp cận vốn…

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Người trong cuộc nói gì? - 2

Sự gia tăng mặt bằng trống tại nhiều tuyến phố ở TPHCM phản ánh một phần khó khăn của doanh nghiệp (Ảnh: Lê Tỉnh).

TPHCM cần khẩn trương xây dựng một hệ thống dữ liệu về "sức khỏe doanh nghiệp", phân tích theo ngành nghề, quy mô, địa bàn, thời gian hoạt động và nguyên nhân rời thị trường. Cần bảo đảm số liệu được so sánh trên cùng một phạm vi, cùng phương pháp và tách riêng các trường hợp giải thể mang tính hành chính với những trường hợp doanh nghiệp thực sự thất bại.

Đơn cử, hiện tượng nhiều mặt bằng bán lẻ bị bỏ trống cũng phản ánh hai vấn đề. Một mặt, hành vi tiêu dùng đang thay đổi nhanh, hoạt động bán hàng chuyển mạnh sang thương mại điện tử, mạng xã hội và mô hình đa kênh. Doanh nghiệp không nhất thiết phải duy trì mặt bằng lớn, ở vị trí đắt đỏ như trước. Mặt khác, sự gia tăng mặt bằng trống tại nhiều tuyến phố vẫn phản ánh thực tế sức mua chưa đủ mạnh, chi phí thuê cao và biên lợi nhuận của doanh nghiệp bán lẻ, dịch vụ đang bị thu hẹp.

Không nên hoảng hốt trước con số này, nhưng tuyệt đối không được xem nhẹ. Đây là một tín hiệu cảnh báo sớm đối với chất lượng tăng trưởng và khả năng huy động đầu tư tư nhân của thành phố.

Doanh nghiệp nhỏ và vừa thường có vốn mỏng, dự phòng dòng tiền ngắn, khả năng thương lượng với ngân hàng, chủ mặt bằng và nhà cung cấp thấp. Chỉ cần doanh thu giảm trong vài tháng, chi phí tài chính tăng hoặc dòng tiền bị chậm, doanh nghiệp có thể lập tức rơi vào tình trạng phải thu hẹp hoặc ngừng hoạt động.

Trong các điểm nghẽn về vốn, chi phí tài chính, sức mua, thủ tục hành chính và quy định kinh doanh, đâu là vấn đề gây áp lực lớn nhất?

- Áp lực lớn nhất hiện nay không nằm ở một yếu tố riêng lẻ mà là tình trạng “kẹt dòng tiền kép”: đầu ra khó khăn trong khi chi phí đầu vào và chi phí tài chính vẫn ở mức cao.

Doanh nghiệp có thể có tài sản nhưng không có dòng tiền; có đơn hàng nhưng thiếu vốn lưu động; có phương án kinh doanh nhưng không đáp ứng được yêu cầu về tài sản bảo đảm. Nhiều doanh nghiệp không hẳn thua lỗ về mặt kế toán nhưng vẫn có thể phải dừng hoạt động vì dòng tiền bị đứt gãy.

Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Người trong cuộc nói gì? - 3

Một doanh nghiệp giới thiệu sản phẩm ở TPHCM (Ảnh: Lam Giang).

Sức mua phục hồi chưa đồng đều, người tiêu dùng thận trọng hơn, thời gian thanh toán giữa các doanh nghiệp kéo dài. Trong khi đó, doanh nghiệp vẫn phải trả lãi vay, tiền thuê mặt bằng, tiền lương, bảo hiểm, logistics và các chi phí tuân thủ. Đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu, biến động tỷ giá và chi phí vận chuyển tiếp tục làm giảm biên lợi nhuận.

Thủ tục hành chính và sự thiếu thống nhất trong thực thi quy định lại làm khuếch đại các khó khăn trên. Một hồ sơ đầu tư, đất đai, xây dựng, phòng cháy chữa cháy hoặc hoàn thuế bị kéo dài không chỉ làm mất thời gian, mà còn khiến vốn của doanh nghiệp bị “chôn”, chi phí lãi vay tăng và cơ hội thị trường bị bỏ lỡ.

Từ góc nhìn cá nhân, tôi đề xuất TPHCM tập trung vào năm nhóm giải pháp cụ thể:

Thứ nhất, thiết lập cơ chế điều phối liên ngành để xử lý các hồ sơ, dự án và kiến nghị bị tồn đọng. Mỗi vụ việc phải xác định rõ một cơ quan chủ trì, một người chịu trách nhiệm và một thời hạn giải quyết. Trường hợp vượt thẩm quyền phải báo cáo ngay, không để hồ sơ đi vòng qua nhiều cơ quan.

Thứ hai, xây dựng bảng theo dõi trực tuyến về tiến độ xử lý kiến nghị doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải biết hồ sơ đang ở đâu, ai xử lý và thời hạn trả lời là ngày nào. Hiệu quả hỗ trợ doanh nghiệp cần trở thành một chỉ tiêu đánh giá trách nhiệm của cơ quan và người đứng đầu.

Thứ ba, tăng khả năng tiếp cận vốn dựa trên dòng tiền, hợp đồng, hóa đơn và chuỗi cung ứng, thay vì phụ thuộc quá lớn vào tài sản thế chấp. Thành phố nên phối hợp với hệ thống ngân hàng nâng cao hiệu quả của Quỹ bảo lãnh tín dụng, thúc đẩy cho vay theo chuỗi, bao thanh toán và các chương trình tín dụng dành cho chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.

Thứ tư, triển khai chương trình hỗ trợ chi phí mặt bằng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp công nghệ. Có thể rà soát quỹ đất, nhà xưởng và tài sản công đủ điều kiện để cho thuê minh bạch với chi phí hợp lý; đồng thời phát triển các cụm sản xuất, trung tâm logistics và không gian dùng chung.

Thứ năm, phải đồng thời kích cầu thị trường. Đẩy nhanh đầu tư công không chỉ tạo thêm công trình mà còn tạo đơn hàng, việc làm và dòng tiền cho doanh nghiệp. Thành phố cần tăng cường liên kết cung cầu, kích cầu tiêu dùng, du lịch, thương mại, xuất khẩu và tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước tham gia nhiều hơn vào các dự án, chuỗi cung ứng và hoạt động mua sắm phù hợp với quy định.

Doanh nghiệp đang thiếu điều kiện gì để tăng quy mô, nâng năng suất, đầu tư công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng? Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp hiện nay cần thay đổi theo hướng nào?

- Doanh nghiệp TPHCM không thiếu ý chí kinh doanh, nhưng đang thiếu một hệ sinh thái đủ đồng bộ để lớn lên.

Doanh nghiệp thiếu nguồn vốn trung và dài hạn có chi phí phù hợp. Vốn tín dụng ngắn hạn có thể giúp doanh nghiệp duy trì hoạt động, nhưng chưa đủ để đầu tư nhà máy, công nghệ, dữ liệu, chuyển đổi xanh và phát triển nguồn nhân lực.

Doanh nghiệp cũng thiếu thị trường và những đơn hàng đủ lớn, ổn định để mạnh dạn đầu tư. Nếu không nhìn thấy đầu ra trong 3-5 năm, rất khó yêu cầu một doanh nghiệp nhỏ bỏ vốn lớn để đổi mới dây chuyền hoặc nâng chuẩn quản trị.

Tinh thần của Nghị quyết 68 về phát triển kinh tế tư nhân cần được chuyển thành các chương trình cụ thể tại thành phố. Chính sách phải chuyển từ tư duy “quản lý doanh nghiệp” sang “phụng sự doanh nghiệp”; từ tiền kiểm sang hậu kiểm; từ hỗ trợ bình quân sang lựa chọn những doanh nghiệp có khả năng đổi mới, tạo việc làm và dẫn dắt chuỗi giá trị.

Đồng thời, các doanh nghiệp cũng thiếu nhân lực chất lượng cao, nhất là nhân lực về công nghệ, quản trị tài chính, dữ liệu, trí tuệ nhân tạo, thương mại quốc tế và phát triển bền vững.

Trong khi đó, sự liên kết giữa doanh nghiệp nhỏ với các doanh nghiệp đầu đàn, doanh nghiệp FDI, viện nghiên cứu và trường đại học còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp muốn tham gia chuỗi cung ứng nhưng không biết bắt đầu từ đâu, phải đạt tiêu chuẩn nào và ai sẽ hỗ trợ họ nâng chuẩn.

Lúc này, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp cần chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang hỗ trợ có mục tiêu, có điều kiện và đo lường được kết quả. Không nên chỉ đánh giá bằng số hội nghị, số doanh nghiệp tham dự hay số hồ sơ được tiếp nhận. Phải đo bằng số doanh nghiệp tăng doanh thu, tăng năng suất, có thêm việc làm, đầu tư công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng hoặc xuất khẩu thành công.

Thành phố có thể triển khai cơ chế "đồng tài trợ theo kết quả" cho các dự án chuyển đổi số, tự động hóa, tiết kiệm năng lượng, phát triển sản phẩm mới và đạt chứng nhận quốc tế. Nhà nước chia sẻ một phần chi phí ban đầu; doanh nghiệp đối ứng phần còn lại và chỉ được nhận hỗ trợ đầy đủ khi đạt kết quả đã cam kết.

Đồng thời, TPHCM nên xây dựng chương trình phát triển nhà cung cấp, trong đó lựa chọn các doanh nghiệp đầu đàn và doanh nghiệp FDI làm hạt nhân, công bố nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật và lộ trình nội địa hóa. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa được tư vấn, đào tạo, hỗ trợ kiểm định và kết nối trực tiếp với đơn hàng.

Bản tin trên Dân Trí phản ánh sự việc 'Gần 39.000 doanh nghiệp TPHCM rời thị trường: Người trong cuộc nói gì?' với nhiều diễn biến đáng chú ý. Đáng chú ý, những khó khăn về dòng tiền, vốn, sức mua, thủ tục hành chính đang “bào mòn” sức khỏe của doanh nghiệp, phản ánh rõ nét những chuyển động thực tế đang diễn ra. Đây được xem là chuyển động đáng chú ý, mở ra nhiều thảo luận thực chất trong thời gian tới.